Gió cấp 6, 7, 8 là bao nhiêu km/h? Theo một bài báo Nhân Dân năm 2007 mô tả bảng cấp gió Bô-pho (Beaufort), gió cấp 6 là 39–49 km/h, cấp 7 là 50–61 km/h và cấp 8 là 62–74 km/h. Đổi từ bảng dặm/giờ của Cơ quan Thời tiết Quốc gia Mỹ (NWS) thì ra khoảng 40–50, 51–61 và 63–74 km/h; chênh lệch 1–2 km/h là do làm tròn. “Cấp” là thang mô tả sức gió theo hiện tượng quan sát được, không phải một tốc độ cố định, và không đồng nghĩa với gió giật.
Bài dành cho người sắp đi xe máy nghe bản tin “gió cấp 6, giật cấp 8” mà chưa hình dung được đó là bao nhiêu km/h. Trang của NWS, hướng dẫn đọc bảng dự báo của Met Office (Anh) và bài báo Nhân Dân được đọc ngày 21/10/2026. Trang của Cục Khí tượng Thủy văn (Cục KTTV) về cấp gió trong bão, đăng ngày 6/9/2024, do người nghiên cứu của nhóm biên tập đọc ngày 19/10/2026; ngày 21/10/2026 công cụ đọc trang chờ quá hạn nên bài dẫn trang này theo bản đã lưu. Không nguồn nào nêu mức gió “an toàn” hay “nguy hiểm” riêng cho xe máy, vì vậy phần gợi ý chạy xe ở cuối bài là của người viết.
Gió cấp 6, 7, 8 là bao nhiêu km/h: ba cách ghi lệch nhau 1–2 km/h
Bảng dưới đặt cạnh nhau ba cách có được con số km/h cho cấp 6, 7, 8. Cột thứ hai là con số bài Nhân Dân nêu trực tiếp bằng km/giờ. Hai cột còn lại là phép đổi của người viết từ cột dặm/giờ và cột hải lý/giờ trên trang NWS (1 dặm = 1,609 km, 1 hải lý = 1,852 km), làm tròn đến km/h gần nhất.
| Cấp | Bài Nhân Dân 2007 | Đổi từ dặm/giờ của NWS | Đổi từ hải lý/giờ của NWS |
|---|---|---|---|
| 6 | 39–49 km/h | 40–50 km/h (25–31 dặm/giờ) | 41–50 km/h (22–27 hải lý/giờ) |
| 7 | 50–61 km/h | 51–61 km/h (32–38 dặm/giờ) | 52–61 km/h (28–33 hải lý/giờ) |
| 8 | 62–74 km/h | 63–74 km/h (39–46 dặm/giờ) | 63–74 km/h (34–40 hải lý/giờ) |
Lệch nhau tối đa 2 km/h ở một mốc biên, và không có lý do để chọn một cột là “đúng”, vì NWS ghi tốc độ bằng số nguyên dặm/giờ và hải lý/giờ nên khi đổi sang km/h, ranh giới chỉ là xấp xỉ. Cách dùng hợp lý là coi mỗi cấp như một dải: gió cấp 6 vào khoảng 40–50 km/h, cấp 7 khoảng 50–60 km/h, cấp 8 khoảng 60–75 km/h. Bài Nhân Dân còn nói thêm rằng cấp 6 và cấp 7 là gió mạnh trong áp thấp nhiệt đới và bắt đầu được thông báo thành bản tin riêng trên các phương tiện thông tin đại chúng, còn cấp 8 bắt đầu được dùng trong bản tin báo bão.
Con số km/h của một cấp là tốc độ gió. Còn bạn đi xe máy gặp gì ở cấp đó thì phụ thuộc vào hướng gió, địa hình và việc gió trung bình hay gió giật; các mục sau nói về từng điểm này.
Cấp gió là gì: thang Beaufort 0–12 xuất phát từ quan sát
Trang của NWS cho biết thang này do Đô đốc Anh Francis Beaufort (1774–1857) xây dựng năm 1805 để giúp thủy thủ ước lượng sức gió bằng quan sát bằng mắt. Thang bắt đầu từ 0, kết thúc ở cấp 12, và vẫn được dùng đến nay để ước lượng sức gió. Hướng dẫn của Met Office viết rằng thang Beaufort là cách mô tả cường độ gió, dựa trên quan sát tình trạng mặt biển nhưng cũng được dùng để mô tả gió trên đất liền.
Bài Nhân Dân năm 2007, đọc ngày 21/10/2026, nói theo cách tiếng Việt: khí tượng học gọi bảng mô tả sức mạnh của gió là “bảng cấp gió Bô-pho (Beaufort)”, mà ngày nay các nước đều dùng trong bản tin báo bão và áp thấp nhiệt đới; bảng “nguyên thủy” có 12 cấp, đến cấp 12 là cấp “không có buồm nào chịu nổi” vào thời đó. Điều này giải thích một điểm dễ gây hiểu lầm: cấp gió không bắt nguồn từ máy đo tốc độ gió mà từ việc người ta nhìn tác động của gió lên mặt biển và vật trên đất liền, rồi gán cho mỗi mức một dải tốc độ.
Bảng Beaufort cấp 0–12 với mô tả trên đất liền
Bảng dưới lấy từ trang của NWS (đọc ngày 21/10/2026): cột dặm/giờ, hải lý/giờ và mô tả trên đất liền là của trang, được người viết dịch sang tiếng Việt; cột km/h là phép đổi của người viết từ cột dặm/giờ, làm tròn.
| Cấp | Tên trên trang NWS | Dặm/giờ | Hải lý/giờ | km/h (đổi) | Trên đất liền theo NWS |
|---|---|---|---|---|---|
| 0 | Calm | 0–1 | 0–1 | 0–2 | Lặng gió; khói bay thẳng lên |
| 1 | Light Air | 1–3 | 1–3 | 2–5 | Khói trôi cho thấy hướng gió, nhưng chong chóng gió chưa quay |
| 2 | Light Breeze | 4–7 | 4–6 | 6–11 | Cảm nhận gió trên mặt; lá xào xạc; chong chóng gió thông thường quay |
| 3 | Gentle Breeze | 8–12 | 7–10 | 13–19 | Lá và cành nhỏ chuyển động liên tục; gió làm lá cờ nhẹ bung ra |
| 4 | Moderate Breeze | 13–18 | 11–16 | 21–29 | Cuốn bụi và giấy rời; cành nhỏ chuyển động |
| 5 | Fresh Breeze | 19–24 | 17–21 | 31–39 | Cây nhỏ có lá bắt đầu lắc; mặt nước nội địa nổi sóng có đỉnh |
| 6 | Strong Breeze | 25–31 | 22–27 | 40–50 | Cành lớn chuyển động; nghe tiếng rít ở dây điện; dùng ô khó khăn |
| 7 | Near Gale | 32–38 | 28–33 | 51–61 | Cả cây chuyển động; thấy bất tiện khi đi ngược gió |
| 8 | Gale | 39–46 | 34–40 | 63–74 | Gió bẻ gãy cành nhỏ; nhìn chung cản trở việc tiến lên |
| 9 | Severe Gale | 47–54 | 41–47 | 76–87 | Hư hại nhẹ về kết cấu (ống khói, ngói bị thổi bay) |
| 10 | Storm | 55–63 | 48–55 | 89–101 | Ít gặp trong đất liền; cây bật gốc; hư hại đáng kể về kết cấu |
| 11 | Violent Storm | 64–72 | 56–63 | 103–116 | Rất hiếm gặp; kèm theo hư hại trên diện rộng |
| 12 | Hurricane | 72–83 | 64–71 | 116–134 | Trang chỉ dẫn sang thang bão Saffir-Simpson |
Hai lưu ý khi đọc bảng. Thứ nhất, trên trang NWS mốc 72 dặm/giờ xuất hiện ở cả cấp 11 (64–72) lẫn cấp 12 (72–83), nên đừng coi 72 là mốc của riêng một cấp. Thứ hai, mô tả “trên đất liền” chỉ là các dấu hiệu quan sát được như cành, cây, dây điện, không phải cam kết về mức độ nguy hiểm với người đi xe.
Gió trung bình và gió giật: hai con số khác nhau trong cùng một bản tin
Hướng dẫn của Met Office giải thích cột tốc độ gió trong bảng dự báo là tốc độ gió trung bình dự kiến tại thời điểm ghi, và nói rõ trên thực tế gió sẽ mạnh lên rồi lặng bớt quanh giá trị này. Cột gió giật là tốc độ gió cao nhất trong khoảng từ giờ đã ghi tới đầu khoảng kế tiếp; gió từ 25 hải lý/giờ (29 dặm/giờ) trở lên được in đậm là “gió mạnh”. Theo phép đổi của người viết, 25 hải lý/giờ vào khoảng 46 km/h, nằm trong dải cấp 6 (22–27 hải lý/giờ) của bảng NWS.
Trang của Cục KTTV (6/9/2024) định nghĩa gió giật theo cách khác một chút: gió giật là gió với tốc độ tăng lên tức thời, được xác định trong khoảng hai giây. Hai trang không mâu thuẫn mà nhấn vào hai khía cạnh của cùng một hiện tượng. Điểm chung là gió giật cao hơn gió nền, và theo suy luận của người viết, người ngồi trên xe cảm nhận nó như những cú đẩy bất chợt.
Trang Cục KTTV cũng viết bão là xoáy thuận nhiệt đới có “sức gió mạnh nhất” từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Nghĩa là trong tin bão có hai tầng thông tin: cấp của sức gió mạnh nhất và cấp của gió giật. Ví dụ giả định của người viết, không phải bản tin thật: “gió mạnh cấp 6, giật cấp 8” nghĩa là gió nền vào khoảng 40–50 km/h nhưng có lúc tăng tức thời tới dải 63–74 km/h theo bảng trên.
Cấp gió trong bão: bài 2007 và trang 2024 gọi tên khác nhau
Trang Cục KTTV (6/9/2024) viết: bão có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên; từ cấp 10 đến cấp 11 là bão mạnh, từ cấp 12 đến cấp 15 là bão rất mạnh, từ cấp 16 trở lên là siêu bão. Bài Nhân Dân năm 2007 ghi bão từ cấp 10 đến cấp 11 là bão mạnh và từ cấp 12 trở lên là bão rất mạnh. Hai cách gọi lệch nhau ở chỗ bài 2007 gộp từ cấp 12 trở lên vào một nhóm “rất mạnh”, còn trang 2024 tách thêm nhóm siêu bão từ cấp 16. Theo hai nguồn này, cách gọi đã đổi theo thời gian; khi gặp tên gọi của bão, hãy ưu tiên bản tin hiện hành của cơ quan khí tượng thay vì bài cũ.
Một hệ quả liên quan tới thang Beaufort: bảng nguyên thủy dừng ở cấp 12, trong khi các tên gọi hiện nay có tới cấp 16 trở lên. Bài Nhân Dân cho biết nhờ thiết bị đo hiện đại, người ta đã xác định được cả những cơn bão có sức gió mạnh trên cấp 12, và ở Việt Nam mùa bão năm 2006 đã dùng tới cấp gió 14–15. Bài này không dùng các chi tiết khác trong bài 2007 về thang của nước ngoài, vì chưa đối chiếu được với nguồn thứ hai.
Mô tả cùng một cấp 8 cũng khác nhau giữa các trang, nên đừng đọc chúng như một định nghĩa duy nhất:
- NWS: gió bẻ gãy cành nhỏ, nhìn chung cản trở việc tiến lên.
- Nhân Dân 2007: gió cấp 8 có thể bẻ gãy cành cây nhỏ và rất khó đi ngược chiều gió.
- Cục KTTV 2024 (trong mục tác động của bão): cành cây dễ bị gãy, một số cây lớn có thể bị bật rễ, người đi bộ gần như không thể di chuyển được.
Với cấp 9, trang Cục KTTV viết gió cực mạnh, cây lớn có thể đổ gãy, giao thông trên đường bộ bị cản trở nặng nề, các biển báo và công trình ngoài trời dễ hư hỏng hoặc đổ sập. Mô tả của Cục KTTV nằm trong bối cảnh bão nên mạnh hơn mô tả “trên đất liền” chung của NWS ở cùng cấp; bài này không chọn bên nào mà chỉ cho thấy khoảng dao động của các cách mô tả.
Đọc cấp gió trước chuyến đi xe máy: nguồn nói gì và đâu là gợi ý của người viết
Điều các nguồn nói trực tiếp liên quan tới người di chuyển là những câu như “khó đi ngược gió” (bài Nhân Dân, cấp 6–7), “bất tiện khi đi ngược gió” (NWS, cấp 7), “rất khó đi ngược chiều gió” (Nhân Dân, cấp 8) và “giao thông trên đường bộ bị cản trở nặng nề” (Cục KTTV, cấp 9). Những câu này nói về người đi bộ hoặc giao thông nói chung; không trang nào có ngưỡng gió cho xe hai bánh. Phần còn lại là gợi ý của người viết:
- Xem đó là gió trung bình hay gió giật. Bản tin ghi “giật cấp 8” nghĩa là có lúc tốc độ tăng tức thời vượt dải của gió nền. Với xe máy, những cú giật bất chợt quan trọng không kém con số trung bình.
- Đổi cấp ra km/h bằng bảng ở trên để so với tốc độ bạn định chạy. Một phép cộng đơn giản: gió ngược chiều cộng với tốc độ xe thành luồng gió thổi vào người lái. Chẳng hạn xe chạy 40 km/h gặp gió ngược 40–50 km/h thì luồng gió tương đối vào khoảng 80–90 km/h. Đây là suy luận của người viết, không phải số liệu nguồn; gió ngang không cộng như vậy nhưng vẫn làm xe lệch.
- Phân biệt vùng biển với đất liền. Cùng một cấp, mô tả trên biển và trên đất liền khác nhau (bảng NWS có hai cột mô tả). Bản tin cho vùng biển ngoài khơi không nói thay được điều kiện trên đường bạn đi.
- Đặt gió trong bối cảnh địa hình. Cầu cao, đoạn đường trống, đèo núi hay nơi có cây lớn dọc đường thường làm cảm giác gió đổi hẳn so với bản tin chung; nguồn không so sánh các địa hình này, đây chỉ là lý do để cân nhắc kỹ hơn. Cách xử lý khi gặp gió giật giữa đường được tóm tắt trong bài đi xe máy khi giông lốc và gió giật: nên dừng ở đâu, tránh cây to, cầu cao.
- Xem thêm cảnh báo bão khi cấp gió bắt đầu bằng “bão”. Bài mùa bão ở Việt Nam kéo dài đến tháng mấy và du khách đi xe máy nên theo dõi cảnh báo nào đối chiếu mốc mùa bão và nơi tra cảnh báo mà các chính phủ nước ngoài khuyên du khách theo dõi.
- Với chuyến lên vùng cao, hãy đọc thêm phần chọn xe, nhóm đi và điểm đến trong bài đi vùng cao bằng xe máy hay ôtô: chọn theo nhóm đi, hành lý, sức khỏe và điểm đến trước khi quyết định.
Giới hạn của bài và cách kiểm tra lại
Bài không dự báo gió cho ngày hay địa điểm cụ thể, không nêu cấp gió nào là “chạy được” hay “không nên chạy” cho xe máy, và không bàn các văn bản của cơ quan nhà nước về báo bão vì chưa đọc chúng. Bài Nhân Dân là bài cũ (trang ghi ngày 10/7/2007), nên bài này chỉ dùng phần tên gọi bảng Bô-pho và con số, mô tả cho cấp 6, 7, 8; tên gọi các loại bão dùng trang của Cục KTTV năm 2024. Phép đổi sang km/h là của người viết và chỉ là xấp xỉ. Khi cần con số chính xác cho một bản tin cụ thể, hãy mở lại các trang trong danh sách dưới đây và đối chiếu với bản tin hiện hành của cơ quan khí tượng nơi bạn đi qua.
Nguồn tham khảo
- Cơ quan Thời tiết Quốc gia Mỹ (NWS), văn phòng Miami, Beaufort Wind Scale (đọc ngày 21/10/2026).
- Met Office (Anh), What does this forecast mean? (đọc ngày 21/10/2026).
- Báo Nhân Dân điện tử, Hiểu thế nào về sức gió mạnh trong cơn bão? (trang ghi ngày 10/7/2007; đọc ngày 21/10/2026; trang này không cho máy kiểm tra tự động đọc được nội dung nên không nằm trong danh mục nguồn kiểm tra).
- Cục Khí tượng Thủy văn, Hiểu về cấp gió trong bão (đăng ngày 6/9/2024; đọc ngày 19/10/2026 theo bản đã lưu, chưa mở lại được ngày 21/10/2026).
