Cửa ô Hà Nội là cách gọi riêng của Hà Nội cho các cổng qua vòng lũy thành quanh Thăng Long xưa: sử sách ghi 21 cửa ô, và theo Hà Nội Mới (18/9/2026), Ô Quan Chưởng (Đông Hà môn), xây năm 1749 bên phố Hàng Chiếu, là cửa ô duy nhất còn tồn tại. Bài viết đối chiếu hai nguồn báo đã đọc ngày 19/10/2026: bài “Ô Quan Chưởng: Nơi lưu giữ ký ức Hà Nội xưa” của tác giả Duy Khánh trên Hà Nội Mới, đăng ngày 18/9/2026, và bài “Hà Nội từng có 21 cửa ô” trên VnExpress, đăng ngày 25/12/2016. Hai bài cách nhau gần mười năm và có trọng tâm khác nhau: Hà Nội Mới tả di tích còn lại, còn VnExpress điểm lại các cửa ô xưa qua sử sách và bản đồ. Vì vậy có chỗ hai nguồn trùng nhau, có chỗ kể khác nhau, và bài sẽ nêu từng chỗ kèm tên báo. Phần đánh dấu “gợi ý của bài viết” là nhận định riêng, không phải lời của hai tờ báo. Bài không nêu giờ mở cửa hay giá vé, vì hai nguồn không có những thông tin này.
Cửa ô là gì và vì sao chỉ Hà Nội gọi như vậy
Mục lục bài viết
- Cửa ô là gì và vì sao chỉ Hà Nội gọi như vậy
- Hà Nội có bao nhiêu cửa ô: 21 theo sử sách, ít hơn theo bản đồ
- Ô Quan Chưởng (Đông Hà môn): ở đâu, xây năm nào, trông ra sao
- Vì sao Ô Quan Chưởng là cửa ô duy nhất còn lại
- Hai nguồn lệch nhau ở đâu và bài ghi nhận thế nào
- Cách ghé Ô Quan Chưởng trong chuyến đi phố cổ từ Long Biên bằng xe máy
- Tóm tắt nhanh trước khi lên đường
- Nguồn tham khảo
Theo VnExpress, nhiều thành thị khác của Việt Nam cũng từng có tường thành và cổng ra vào, song cách gọi “cửa ô” chỉ dùng ở Hà Nội. Nói cách khác, cửa ô Hà Nội là một tên gọi địa phương gắn riêng với thủ đô. Bài chia cửa ô thành hai kiểu. Kiểu thứ nhất là cổng vòm có lầu gác phía trên; khi xây thành lối tam quan thì giống Ô Quan Chưởng. Kiểu thứ hai giản dị hơn: hai trụ biểu đi kèm hai cánh cổng gỗ. Từ cách chia đó có thể hiểu rằng không phải cửa ô nào cũng có lầu gác; đây là cách đọc của bài viết chứ không phải câu chữ của VnExpress.
Các cửa ô nằm trên một vòng lũy đất xen gạch. VnExpress cho biết vòng lũy này tương ứng với đường vành I ngày nay, chạy qua các phố như Trần Khát Chân, Đại Cồ Việt, La Thành và Hoàng Hoa Thám, tổng chiều dài 16 km. Nhiều đoạn xưa là đê, cao hơn các phố bên cạnh, nhưng ngày nay đã bị san thấp đi khá nhiều. Theo bài, nhờ các cửa ô mà người làm quy hoạch nhận ra đâu là trục giao thông chính và đâu là vùng dân cư; cũng vì thế cửa ô trở thành dấu ấn riêng của Hà Nội.
Về mốc thời gian, VnExpress nêu hai lớp. Lớp thứ nhất là ghi chép sớm nhất: Đại Việt sử ký toàn thư nhắc đến các cửa ô từ năm 1308, khi chép việc Trần Anh Tông trị tội một nhóm người bị coi là đại nghịch. Đoạn trích trong bài nhắc cửa thành chợ Dừa, cửa thành Tây Dương và cửa thành Vạn Xuân, và bài đối chiếu chúng với Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy và Ô Đống Mác. Lớp thứ hai là tên gọi: chỉ từ sau khi chúa Trịnh Doanh cho đắp lại vòng tường thành dài 16 km vào năm 1749, dựa trên bức lũy thời Mạc, hai chữ “cửa ô” mới được dùng. Một số văn bản chữ Hán gọi các cửa này là “ổ môn”, với chữ “ổ” mang nghĩa lũy hoặc ụ đất. VnExpress còn dẫn Hoàng Lê nhất thống chí, nơi cụm “cửa ô Yên Hoa” xuất hiện khi kể chuyện Trịnh Khải sau trận thua Nguyễn Huệ năm 1786 phải rời kinh thành.
Một chi tiết nhỏ giúp nhớ: theo VnExpress, cùng với Ô Quan Chưởng, những tên như Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy hay Ô Cầu Dền là số ít địa danh mang chữ “Ô” còn được dùng đến ngày nay. Gợi ý của bài viết: khi gặp một địa danh bắt đầu bằng chữ “Ô” trên bản đồ hoặc trong lời chỉ đường, bạn có thể hiểu nhiều khả năng đó là tên còn lại từ một cửa ô cũ; hãy coi đây là mẹo ghi nhớ chứ không phải kết luận cho từng địa danh.
Hà Nội có bao nhiêu cửa ô: 21 theo sử sách, ít hơn theo bản đồ
Con số 21 đến từ sách cũ. VnExpress cho biết có bốn tài liệu địa chí nhắc đến cửa ô và cùng xác định Hà Nội có 21 cửa ô. Có Bắc thành dư địa chí từ thời Minh Mạng; có Hà Nội địa dư từ thời Tự Đức; còn hai sách muộn hơn là Phương Đình dư địa chí loại (mốc năm 1882, khắc in năm 1900) và Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ (ghi năm 1956). Hà Nội Mới nhấn mạnh rằng trong 21 cửa ô của thành Thăng Long xưa, chỉ còn Ô Quan Chưởng đứng được đến ngày nay.
Tuy vậy, khi hỏi cửa ô Hà Nội xưa thực sự có bao nhiêu và đem đối chiếu với các nguồn khác cùng bản đồ, các nhà nghiên cứu mà VnExpress dẫn nhận diện được 18 cửa ô, trong đó biết vị trí của 17 cửa. Bản đồ tỉnh thành Hà Nội năm 1831, tên Hoài Đức phủ toàn đồ, là công trình của Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến; sau này Trần Huy Bá vẽ lại và chú giải bằng chữ quốc ngữ vào năm 1956. Bản đồ ấy thể hiện 16 cửa ô. Sách Thăng Long cổ tích khảo, lưu tại Viện Hán Nôm, ghi thêm hai cửa khác là Trung Liệt (Ông Tượng) và Nhân Hòa (Hàng Dê). Đến bản đồ năm 1866 thời Tự Đức, số cửa ô chỉ còn 15, và bản đồ Hà Nội 1885 cũng thể hiện đúng số này. Riêng André Masson, trong sách Hà Nội 1873-1888, gom tư liệu lưu trữ và kết luận có 16 cửa ô.
Bảng dưới gom các con số theo cách VnExpress trình bày. Bài viết chỉ xếp lại cho dễ so sánh, không thêm số liệu nào.
| Tài liệu được VnExpress nhắc | Số cửa ô nêu |
|---|---|
| Các sách địa chí và sử sách (thời Minh Mạng, thời Tự Đức, sách năm 1882, sách năm 1956) | 21 |
| Thống kê của các nhà nghiên cứu từ sách và bản đồ | 18 cửa xác định, 17 cửa biết vị trí |
| Bản đồ tỉnh thành Hà Nội năm 1831 | 16 |
| Sách Hà Nội 1873-1888 của André Masson | 16 |
| Bản đồ năm 1866 và bản đồ Hà Nội 1885 | 15 |
Bài viết nhận định rằng các con số này không nhất thiết mâu thuẫn, vì chúng đến từ những loại tài liệu và những thời điểm khác nhau. Cũng theo VnExpress, tên các cửa ô đổi nhiều lần; nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc cho rằng nguyên nhân là chính các làng có cửa ô bị đổi tên. Tên đổi liên tục thì khó nhớ và dễ lẫn, nên người dân quen gọi bằng tên nôm, chẳng hạn Ô Hàng Đậu, Ô Quan Chưởng, Ô Cầu Dền hay Ô Đống Mác, và những tên ấy còn được dùng lâu về sau. Bản đồ tiếng Pháp năm 1890 vẫn đánh dấu vài cửa ô sót lại: Ô Đồng Lầm (Porte Mandarine), Ô Chợ Dừa (Porte du Roi), Ô Cầu Giấy (Porte de Sontay) và Ô Cầu Dền (Porte de Hué).
VnExpress cũng nêu một điểm dễ nhầm. Khi so các bản đồ, ô Cầu Giấy xưa không đứng ở chỗ cây cầu Giấy hiện nay trên sông Tô Lịch; nó nằm ở phố Thanh Bảo, nơi gần chợ Ngọc Hà và đầu phố Nguyễn Thái Học, vì vậy còn được gọi là ô Thanh Bảo hay Vạn Bảo. Bài học cho người đi tìm dấu tích là đừng suy vị trí một cửa ô cũ chỉ từ tên gọi hiện nay; đây là gợi ý của bài viết.
Bài VnExpress có kèm một trang riêng liệt kê tên và vị trí 18 cửa ô, nhưng bài viết này chưa đọc trang đó nên không đưa danh sách đầy đủ hay vị trí từng cửa. Gợi ý của bài viết: khi nhắc đến chủ đề này, hãy viết “sử sách ghi 21 cửa ô” thay vì “Hà Nội có đúng 21 cửa ô”, vì số cửa xác định được qua bản đồ thấp hơn.
Ô Quan Chưởng (Đông Hà môn): ở đâu, xây năm nào, trông ra sao
Vậy Ô Quan Chưởng ở đâu? Hà Nội Mới cho biết cửa ô còn mang tên Ô Đông Hà, nghĩa là cửa của phường Đông Hà thuở trước, khu vực nay thuộc phường Hoàn Kiếm. Về vị thế, đây là cửa ở mặt đông của lớp thành đất vây quanh kinh thành Thăng Long. Bài đặt công trình bên phố Hàng Chiếu và gọi đây là điểm đến của nhiều người dân và du khách khi vào khu phố cổ. Ghi chú riêng của bài viết, không lấy từ hai báo: cửa ô nằm gần chợ Đồng Xuân, nên nếu muốn ghé cả hai nơi trong một buổi, bạn có thể đọc bài về chợ Đồng Xuân bán gì và nằm ở đâu trong phố cổ trước khi đi.
Xưa kia, theo Hà Nội Mới, cổng nằm trên tuyến đi từ trong thành ra bờ sông Hồng, thuộc phường Đông Hà, tổng Hậu Túc (sau đổi thành Đồng Xuân), huyện Thọ Xương. Con đường từ cửa ô ra bờ sông khi ấy dài chừng 80 m, và vùng bên ngoài cổng được xem là đất ngoại thành. Vì nằm trên một tuyến giao thương quan trọng nên cổng có vọng lâu, được canh gác và kiểm soát thường xuyên để giữ an ninh cho khu phố buôn bán phía trong. Chú thích bản đồ năm 1831 trong bài VnExpress cũng cho biết các cửa ô tập trung nhiều ở phía sông Hồng vì kiêm chức năng cửa khẩu buôn bán, nên hai nguồn khớp nhau ở bức tranh chung này.
Về hình dáng, theo Hà Nội Mới, ngày nay công trình vẫn khá nguyên vẹn với lối tam quan gồm một cửa chính và hai cửa phụ, mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Vọng lâu có hai tầng. Tầng dưới mở ba cửa vòm cuốn, trong đó cửa giữa cao và rộng hơn hai cửa bên. Cạnh hai cổng phụ có bậc thang để lên vọng lâu; phần tầng trên mang bốn mái, xưa là nơi quân lính gác. Mặt trước còn ba chữ Hán “Đông Hà Môn”. Về tuổi, công trình được xây năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749); Hà Nội Mới nêu ba đợt đại tu: năm 1785 (Cảnh Hưng 46), năm 1804 (Gia Long thứ 3) và năm 1817 (Gia Long 16).
Còn tên gọi “Quan Chưởng”? Hà Nội Mới dẫn câu chuyện lưu truyền trong dân: một viên Chưởng cơ và đội quân gồm 100 binh lính đã đứng ra chống quân Pháp để giữ thành Hà Nội. Trong vọng lâu hiện đặt một ban thờ nhỏ để tưởng nhớ vị Chưởng cơ cùng các binh lính ngã xuống lúc giữ thành năm 1873. Bài trình bày đây là chuyện lưu truyền; phần VnExpress đã đọc không giải thích nguồn gốc cái tên Quan Chưởng, nên bài viết không có nguồn thứ hai để đối chiếu chi tiết này.
Phía trái cửa chính có tấm bia đá mà Tổng đốc Hoàng Diệu cho đặt vào năm 1881; nội dung nói rằng lính canh không được sách nhiễu dân khi qua lại cửa ô. Hà Nội Mới nhận xét chi tiết này vừa có giá trị lịch sử vừa cho thấy nếp quản lý và đời sống xã hội của Hà Nội xưa. VnExpress đọc tấm bia theo hướng tương tự: bài cho rằng vòng lũy được đắp để ngăn giặc giã, quân nổi loạn nhưng thực tế còn khiến người lành e dè, và văn bia năm 1881 nhắc tới tệ sách nhiễu đã có từ trước là bằng chứng. Tên của tấm bia thì hai báo ghi khác nhau; phần sau của bài nói rõ.
Vì sao Ô Quan Chưởng là cửa ô duy nhất còn lại
Bài của Hà Nội Mới kể rằng khi đã làm chủ thành Hà Nội, người Pháp cho phá các cửa ô để thành phố có chỗ mở rộng. Riêng việc Ô Quan Chưởng còn lại, bài gắn với sự đấu tranh quyết liệt của người dân, nhờ đó một phần ký ức Hà Nội xưa vẫn nằm giữa đô thị. Bài không nêu thời điểm, nhân vật hay sự kiện cụ thể của cuộc đấu tranh ấy, nên bài viết cũng không thể bổ sung.
VnExpress kể bằng một đoạn trích khác, lấy từ sách Hà Nội 1873-1888 của André Masson. Theo đoạn trích, khu buôn bán xưa có nhiều cổng bảo vệ, nhưng đến mốc “hiện nay (1929)” mà tác giả dùng thì chỉ còn một cổng, mà ông gọi là cổng Jean Dupuis, tức Ô Quan Chưởng. Masson cho biết năm 1906 cổng từng đứng trước nguy cơ bị phá, và trường Viễn Đông Bác Cổ đã giữ được nó. VnExpress nêu thêm bối cảnh: khi người Pháp dựng thành phố, họ nhiều lần lấy bức lũy Đại La dựng năm 1749 làm ranh giới ước lệ của đô thị; còn lúc quân Pháp hai lần tấn công Hà Nội, các cửa ô không chặn nổi đại bác hay sự tàn phá.
Hai cách kể không loại trừ nhau: một bên nhấn mạnh cuộc đấu tranh của người dân, một bên nhắc việc trường Viễn Đông Bác Cổ giữ cổng khi nó đứng trước nguy cơ bị phá. Gợi ý của bài viết: đừng gộp hai chuyện thành một câu chuyện duy nhất; nếu cần kể ngắn, hãy nói “theo Hà Nội Mới, cổng được giữ lại gắn với đấu tranh của nhân dân; theo đoạn trích Masson trên VnExpress, cổng suýt bị phá năm 1906 và được trường Viễn Đông Bác Cổ cứu”.
Các mốc còn lại theo hai nguồn, xếp theo thời gian (bài viết chỉ sắp xếp lại):
- 1749: cổng được xây (cả hai nguồn nêu năm này). Các năm 1785, 1804 và 1817 là ba đợt đại tu, chỉ Hà Nội Mới nêu.
- 1873 và 1881: năm Hà Nội Mới gắn với ban thờ tưởng nhớ các binh lính ngã xuống khi giữ thành, và năm đặt tấm bia của Tổng đốc Hoàng Diệu (bia này có cả trong VnExpress).
- 1906: cổng đứng trước nguy cơ bị phá và được trường Viễn Đông Bác Cổ giữ lại (VnExpress, dẫn Masson).
- 1946: theo Hà Nội Mới, lúc cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, Thủ đô ngập trong bom đạn và cổng cũng mang nhiều dấu vết chiến tranh.
- 1995: Ô Quan Chưởng được công nhận là di tích lịch sử (Hà Nội Mới).
Hà Nội Mới khép bài bằng lời nhắn rằng giữ nguyên trạng kiến trúc, trân trọng các dấu tích và phát huy giá trị văn hóa của di tích là việc quan trọng để lưu giữ ký ức Thăng Long giữa Hà Nội ngày nay. VnExpress khép bằng một cái nhìn rộng hơn: về lâu dài, các cửa ô không còn mang vai trò thành lũy mà thành địa danh của cộng đồng, như cổng làng ở nhiều vùng quê. Nếu bạn muốn đặt cửa ô vào một buổi đi bộ giữa khu phố cổ, bài phố cổ Hà Nội có gì chơi, món ngon và lịch trình đi bộ gợi ý thêm các điểm dừng trong khu vực.
Hai nguồn lệch nhau ở đâu và bài ghi nhận thế nào
Khi viết về cửa ô Hà Nội, hai nguồn đều nêu năm 1749, đều coi Ô Quan Chưởng là cổng còn lại, và đều nhắc tấm bia năm 1881 của Hoàng Diệu ở bên trái cửa chính. Chỗ lệch nằm ở các tiểu tiết trong bảng dưới.
| Chi tiết | Hà Nội Mới (18/9/2026) | VnExpress (25/12/2016) |
|---|---|---|
| Tên tấm bia năm 1881 | “Lệnh cấm trừ tề” | “Thân cấm khử tệ” |
| Các đợt đại tu | 1785, 1804, 1817 | Phần bài đã đọc không nêu năm đại tu nào |
| Hoàn cảnh xây cổng | Nằm trên tuyến giao thương ra sông, có vọng lâu, được canh gác để giữ an ninh cho khu phố buôn bán | Đoạn trích Masson: dựng năm 1749 để phòng thủ kinh thành phía sông Hồng trước cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu |
| Số cửa ô | 21 cửa ô của thành Thăng Long cũ | 21 theo sử sách; 18 cửa xác định; bản đồ ghi 16 hoặc 15 |
| Vì sao cổng còn lại | Gắn với đấu tranh quyết liệt của nhân dân | Suýt bị phá năm 1906, được trường Viễn Đông Bác Cổ cứu |
Về tên bia, cả hai báo mô tả cùng vị trí, cùng người đứng ra, cùng năm và cùng nội dung là cấm lính gác sách nhiễu dân. Vì vậy bài viết cho rằng nhiều khả năng đây là một tấm bia được ghi bằng hai tên khác nhau, nhưng đó chỉ là suy đoán: hai báo không giải thích vì sao tên khác nhau và bài không có nguồn thứ ba để phân xử. Cách ghi an toàn là viết “theo Hà Nội Mới là Lệnh cấm trừ tề, theo VnExpress là Thân cấm khử tệ”, hoặc chỉ nói “tấm bia năm 1881 cấm lính gác sách nhiễu dân”. Bài này không khẳng định tên nào đúng.
Về các đợt đại tu, chỉ Hà Nội Mới nêu ba mốc. Phần VnExpress đã đọc không nhắc năm đại tu nào, nên đây là chỗ một nguồn có thông tin còn nguồn kia im lặng, chứ không phải hai nguồn mâu thuẫn. Bài viết vì thế không thể xác nhận ba mốc này bằng nguồn thứ hai. Nếu bạn gặp tài liệu khác ghi mốc khác, hãy ghi rõ tên nguồn thay vì chọn một con số.
Về số cửa ô, Hà Nội Mới nhắc con số 21 như một dữ kiện quen thuộc, còn VnExpress cho biết 21 là con số trong sử sách và việc thống kê xác định được ít hơn. Khi đặt hai cách nói cạnh nhau, cách của VnExpress thận trọng hơn về chính con số, nên bài viết theo cách ghi “sử sách ghi 21 cửa ô”. Về hoàn cảnh xây cổng và lý do cổng còn lại, hai nguồn nhấn vào hai khía cạnh khác nhau chứ chưa chắc trái ngược; bài viết ghi cả hai và không chọn thay bạn.
Với cả bốn chỗ, nguyên tắc của bài này giống nhau: nêu cả hai cách kể, ghi tên báo và ngày đăng, rồi để bạn tự quyết định cách dùng. Nếu cần đưa vào lịch trình hay bài đăng, gợi ý của bài viết là chọn cách nói ít chi tiết nhất mà cả hai nguồn đều đồng ý.
Cách ghé Ô Quan Chưởng trong chuyến đi phố cổ từ Long Biên bằng xe máy
Phần này hoàn toàn là gợi ý của bài viết. Hai báo không cung cấp đường đi, giờ mở cửa hay giá vé, nên bài viết không đưa những thông tin đó. Điều Hà Nội Mới cho biết là cửa ô nằm giữa nhịp sống nhộn nhịp của khu phố cổ, bên phố Hàng Chiếu; phần còn lại dưới đây là cách sắp xếp của bài viết cho người đi xe máy, nhất là người vừa thuê hoặc mượn xe và chưa quen đường nội đô.
- Xác định điểm đến trước khi lên xe. Mở bản đồ số và đặt Ô Quan Chưởng, phố Hàng Chiếu làm điểm đến; chợ Đồng Xuân ở gần đó có thể làm mốc thứ hai.
- Nếu xuất phát từ Long Biên, kiểm tra đường đi trước. Bài về cầu Long Biên đóng để sửa chữa và cách theo dõi thông báo mở lại trên blog nói về trường hợp cầu đóng và cách xem thông báo; tình trạng cầu có thể đã khác, nên hãy xem thông báo chính thức mới nhất trước khi đi.
- Tìm chỗ gửi xe rồi mới đi bộ. Bài về điểm gửi xe máy quanh Hồ Gươm và phố cổ do thành phố công bố tổng hợp các điểm đỗ xe cho đợt thí điểm và có nhắc Ô Quan Chưởng như một mốc khi mô tả ranh giới đoạn phố Trần Nhật Duật. Danh sách điểm đỗ có thể thay đổi, vì vậy hãy xem lại thông báo chính thức trước chuyến đi.
- Đi bộ qua cửa ô và đối chiếu với mô tả của Hà Nội Mới: ba chữ Hán trên mặt trước, vọng lâu hai tầng, bậc thang bên cổng phụ, bia đá bên trái cửa chính. Tình trạng thực tế có thể khác theo thời điểm; nếu thấy khác mô tả, hãy tin vào những gì bạn nhìn thấy.
- Đừng dừng xe giữa đường để chụp ảnh. Gửi xe trước, chụp ảnh ở chỗ đứng an toàn, rồi nối sang chợ Đồng Xuân hoặc vài điểm khác trong phố cổ.
Tất cả thông tin trong phần này tính theo nguồn đã đọc ngày 19/10/2026. Điểm gửi xe, tình trạng cầu và cách tổ chức giao thông quanh phố cổ có thể thay đổi, nên hãy xem lại thông báo chính thức trước khi đi.
Tóm tắt nhanh trước khi lên đường
- Cửa ô Hà Nội là tên gọi chỉ dùng ở Hà Nội; theo VnExpress, ghi chép sớm nhất năm 1308, còn hai chữ “cửa ô” được dùng từ sau khi vòng tường thành dài 16 km được đắp lại năm 1749.
- Sử sách ghi 21 cửa ô; các nhà nghiên cứu xác định được 18 cửa và vị trí của 17 cửa; bản đồ 1831 vẽ 16 cửa, bản đồ 1866 và 1885 còn 15 cửa.
- Ô Quan Chưởng (Đông Hà môn) xây năm 1749, đại tu năm 1785, 1804 và 1817, được công nhận di tích lịch sử năm 1995 theo Hà Nội Mới, và là cửa ô duy nhất còn lại.
- Hai nguồn lệch nhau ở tên bia năm 1881 (Lệnh cấm trừ tề hay Thân cấm khử tệ), ở chỗ chỉ một nguồn nêu năm đại tu, và ở cách giải thích vì sao cổng còn lại.
- Phần cách đi là gợi ý của bài viết: gửi xe trước, đi bộ, và xem lại thông báo chính thức về đường đi và điểm gửi xe trước khi lên đường.
Nguồn tham khảo
- Ô Quan Chưởng: Nơi lưu giữ ký ức Hà Nội xưa, đọc ngày 19/10/2026
- Hà Nội từng có 21 cửa ô – Báo VnExpress, đọc ngày 19/10/2026
