Đặt cọc thuê xe máy bằng USD không phải cách làm chắc chắn đúng quy định. Theo Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN (đọc từ văn bản hợp nhất 28/VBHN-NHNN trên vbpl.vn), trừ các trường hợp liệt kê ở Điều 4, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, báo giá và ghi giá trong hợp đồng trên lãnh thổ Việt Nam của người cư trú lẫn người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối. Từ 01/12/2026, nguyên tắc này được ghi lên cấp luật tại Điều 31a Luật Ngân hàng Nhà nước theo Luật 23/2026/QH16, còn Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối bị bãi bỏ. Danh sách ngoại lệ đã đọc không nêu thuê xe máy và văn bản không nhắc riêng tiền cọc, nên đồng tiền an toàn nhất cho cả tiền thuê lẫn tiền cọc là đồng Việt Nam; việc áp nguyên tắc vào khoản cọc là cách đọc của người viết, không phải kết luận pháp lý.
Du khách mang đô la Mỹ đến Hà Nội thường hỏi một câu rất cụ thể: cọc nhận xe bằng USD có được không, hay phải đổi sang đồng trước. Bài này đặt hai văn bản cạnh nhau, đoạn đang áp dụng và đoạn thay đổi từ 01/12/2026, rồi tách phần văn bản nói rõ với phần còn bỏ ngỏ. Người viết đọc các trang nguồn ngày 22/10/2026. Bài không nêu mức xử phạt, không nói cửa hàng nào nhận hay không nhận USD, không đưa giá thuê hay mức cọc và không phải tư vấn pháp lý cho một giao dịch cụ thể.
Đặt cọc thuê xe máy bằng USD theo quy định áp dụng đến hết 30/11/2026
Điều 3 của Thông tư 32/2013/TT-NHNN, bản hợp nhất 28/VBHN-NHNN đăng trên vbpl.vn (trang ghi ngày cập nhật 28/08/2026), có tên “Nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam”. Toàn văn điều này: “Trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 Thông tư này, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối.”
Có bốn điểm đáng chú ý trong đoạn này.
- Áp dụng cho cả hai nhóm. Câu văn nêu “người cư trú, người không cư trú”, nên người đọc không cần tự phân loại mình theo quốc tịch. Theo Pháp lệnh Ngoại hối (đọc từ bản hợp nhất 140/2026/VBHN-PL-VPQH đăng Công báo số 527), người nước ngoài đến du lịch thuộc nhóm không phải người cư trú, còn công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam là người cư trú.
- Phạm vi rộng hơn việc trả tiền. Ngoài “thanh toán”, câu còn liệt kê giao dịch, niêm yết, báo giá, định giá và “ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận”. Một điều khoản ghi giá thuê hay tiền cọc bằng đô la trong hợp đồng hoặc biên nhận có thể rơi vào nhóm này, đó là cách đọc của người viết.
- USD thuộc khái niệm ngoại hối. Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối liệt kê ngoại hối gồm “đồng tiền của quốc gia khác” mà văn bản gọi tắt là ngoại tệ, cùng séc, thẻ thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và một số loại vàng. Đô la Mỹ là đồng tiền của một quốc gia khác.
- Xử lý vi phạm chỉ được nêu chung. Điều 6 của Thông tư viết rằng tổ chức, cá nhân vi phạm, tùy tính chất và mức độ, “sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật”. Trang đã đọc không nêu mức tiền hay bên nào bị xử lý, nên bài không nói gì thêm.
Bản hợp nhất này nêu Thông tư 32/2013/TT-NHNN có hiệu lực từ 10/02/2014 và đã được sửa đổi bởi Thông tư 03/2019/TT-NHNN và Thông tư 75/2025/TT-NHNN. Điều 3 trong bản đã đọc không có chú thích sửa đổi riêng, nhưng người viết không đối chiếu từng chữ với bản gốc năm 2013.
Từ 01/12/2026: Điều 31a thay Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối
Luật 23/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Cổng thông tin điện tử Chính phủ ghi luật do Quốc hội ban hành ngày 24-08-2026 và có hiệu lực ngày 01-12-2026. Tài liệu giới thiệu luật do Vụ Pháp chế đăng trên sav.gov.vn ngày 16/09/2026 cho biết luật bổ sung Điều 31a vào sau Điều 31 Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 “nhằm luật hóa” quy định quản lý ngoại hối từ cấp pháp lệnh (Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối) lên tầm luật, đồng thời nêu mục tiêu “hạn chế tình trạng đô la hóa”. Điều 4 của luật bãi bỏ Điều 22 và khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh.
Bản hợp nhất Pháp lệnh Ngoại hối số 140/2026/VBHN-PL-VPQH, ký ngày 23/9/2026 và đăng Công báo số 527 ngày 25/9/2026, đã ghi tại Điều 22 dòng “được bãi bỏ”, kèm chú thích: điều này bị bãi bỏ theo khoản 2 Điều 4 Luật 23/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2026. Vì vậy hai mốc ngày rất rõ: trước 01/12/2026 Điều 22 chưa bị bãi bỏ, từ ngày đó Điều 31a thay vai trò của nó. Người viết không đọc nguyên văn Điều 22 vì bản hợp nhất chỉ ghi dòng bãi bỏ, nên không so sánh từng chữ giữa Điều 22 và Điều 31a.
Đặt câu chữ của Điều 3 Thông tư và Điều 31a (theo trang giới thiệu luật trên sav.gov.vn) cạnh nhau:
| Nội dung | Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN | Điều 31a Luật Ngân hàng Nhà nước (từ 01/12/2026) |
|---|---|---|
| Phạm vi | Mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự | Cùng danh sách các hành vi |
| Đối tượng | Nêu rõ người cư trú, người không cư trú | Câu trích không nêu riêng hai nhóm này |
| Giải thích thêm | Có ngoặc “bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận” | Câu trích không có phần ngoặc này |
| Ngoại lệ | Các trường hợp ở Điều 4 Thông tư | “Trường hợp được phép theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước” |
Câu trích Điều 31a trên trang giới thiệu viết: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ trường hợp được phép theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”. Đọc trang giới thiệu, đây là nguyên tắc cũ được nâng lên cấp luật, không phải sự nới lỏng; người viết không rút ra hệ quả pháp lý nào từ những khác biệt nhỏ trong câu chữ và chưa thấy văn bản của Ngân hàng Nhà nước nói Thông tư 32/2013/TT-NHNN còn nguyên hay được thay thế sau 01/12/2026.
Các ngoại lệ ở Điều 4 Thông tư 32/2013 có nói đến thuê xe máy không
Điều 4 của Thông tư liệt kê các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Người viết đọc toàn bộ danh sách và không thấy mục nào nêu thuê xe máy hay cho thuê phương tiện. Vài mục liên quan nhất tới du khách:
- Khoản 1: cơ quan hải quan, công an, bộ đội biên phòng và cơ quan nhà nước khác tại cửa khẩu được niêm yết và thu bằng ngoại tệ đối với các loại thuế, phí thị thực xuất nhập cảnh và phí, lệ phí khác theo quy định.
- Khoản 2 và khoản 3: ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối được giao dịch bằng ngoại hối trong phạm vi Ngân hàng Nhà nước cho phép.
- Khoản 9: tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế được niêm yết giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt, theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.
- Khoản 13: tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch được niêm yết, quảng cáo giá bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử, ấn phẩm chuyên ngành “chỉ sử dụng tiếng nước ngoài”, với dấu ngoặc loại trừ thực đơn và bảng giá dịch vụ.
- Khoản 16: nhóm quy định riêng cho người không cư trú, gồm điểm c cho phép nhà đầu tư nước ngoài đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ chuyển khoản khi tham gia đấu giá cổ phần trong các trường hợp được nêu.
- Khoản 17: các trường hợp liên quan đến an ninh, quốc phòng, dầu khí và trường hợp cần thiết khác, tổ chức được dùng ngoại hối sau khi Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
Có hai chỗ dễ đọc nhầm. Thứ nhất, khoản 13 nói về niêm yết và quảng cáo giá trên trang tin điện tử bằng tiếng nước ngoài của tổ chức kinh doanh du lịch, không nói rằng được nhận thanh toán bằng ngoại tệ và không nêu thuê xe máy; bài không khẳng định một cơ sở cho thuê xe có thuộc nhóm “kinh doanh du lịch” hay không. Thứ hai, điểm b khoản 16 có câu “Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú”. Câu này nằm cùng điểm với thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và nói đến ngoại tệ chuyển khoản, không nói tiền mặt. Văn bản không giải thích nó có áp dụng cho dịch vụ cung cấp ngay tại Việt Nam cho du khách hay không, nên bài không dựa vào câu này để kết luận bất cứ điều gì về cọc bằng USD tiền mặt.
Khoản cọc nhận xe có thuộc giao dịch, thanh toán không: cách đọc của người viết
Đây là chỗ văn bản không trả lời trực tiếp. Điều 3 không nhắc tiền cọc, ký cược hay thuê xe máy; nó dùng các từ chung như giao dịch, thanh toán, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận. Có hai cách đọc để người dùng tự cân nhắc.
Cách đọc thứ nhất, chặt chẽ hơn: khoản cọc là tiền giao khi ký thỏa thuận thuê xe, nên việc nhận hoặc ghi số tiền đó bằng đô la là một phần của giao dịch hoặc thỏa thuận, và nằm trong phạm vi của Điều 3. Cách đọc thứ hai, hẹp hơn: tiền cọc sẽ được trả lại nên không phải khoản “thanh toán” cho hàng hóa, dịch vụ, và chỉ phần tiền thuê mới cần tính bằng đồng. Văn bản không nói cách đọc nào đúng, và bài không có căn cứ để chọn giúp bạn. Một nhận xét thêm của người viết, không phải giải thích chính thức: khi muốn cho phép đặt cọc bằng ngoại tệ, Thông tư nêu hẳn từ “đặt cọc, ký quỹ” trong một ngoại lệ riêng (điểm c khoản 16, chỉ cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia đấu giá cổ phần và chỉ bằng chuyển khoản), còn danh sách không có mục tương tự cho tiền cọc thuê xe.
Từ hai cách đọc đó, người viết đề xuất một nguyên tắc thận trọng: nếu có thể, hãy để cả giá thuê lẫn tiền cọc tính và nhận bằng đồng Việt Nam, vì đó là lựa chọn không cần tranh luận về cách đọc. Về bản chất dân sự của khoản cọc nhận xe, bài ký cược khi thuê xe máy theo Điều 329 Bộ luật Dân sự đã phân tích riêng; bài này chỉ bàn đồng tiền, không bàn điều kiện hoàn cọc.
Cách làm thực tế để khỏi vướng khi thuê xe
Các bước dưới đây là gợi ý của người viết, không phải điều khoản.
- Hỏi trước bằng tin nhắn. Trước khi đến, nhắn hỏi giá thuê và tiền cọc được tính bằng đồng nào và nhận bằng hình thức nào, để câu trả lời còn được lưu lại.
- Chuẩn bị tiền đồng. Nếu bạn chỉ có đô la, đổi tại nơi được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối như ngân hàng, thay vì trả bằng đô la ngay tại quầy xe. Bài tiền, đổi tiền, thẻ và ATM khi du lịch Việt Nam tổng hợp lời dặn của các trang du lịch và chính phủ về đổi tiền, thẻ và rút tiền.
- Xin biên nhận ghi số tiền bằng đồng. Biên nhận hoặc hợp đồng nên ghi ngày, loại xe, số tiền cọc bằng đồng và điều kiện hoàn lại. Bài hóa đơn và chứng từ thuê xe máy gợi ý nên xin gì khi nhận và đổi xe.
- Đối chiếu nội dung hợp đồng. Danh mục tự kiểm tra trong bài nội dung hợp đồng thuê xe máy theo Điều 398 Bộ luật Dân sự giúp bạn đọc các điều khoản về giá, cọc và trả xe trước khi ký.
- Nếu bên cho thuê chỉ nhận đô la. Hãy hỏi lại bằng văn bản về đồng tiền và cách ghi trong biên nhận, hoặc cân nhắc nơi khác. Bài không khẳng định việc nhận đô la là trái quy định trong mọi trường hợp, vì ranh giới chưa được văn bản nói rõ.
Bài này không nêu cửa hàng nào nhận hay không nhận USD, và không dùng bảng giá hay mức cọc bằng đô la của bất kỳ đơn vị nào.
Những điều bài chưa kết luận và cách tự kiểm tra
Bài không trả lời được các câu sau, và người đọc nên coi chúng là chỗ cần kiểm tra thêm:
- Mức xử phạt cụ thể nếu vi phạm: Thông tư chỉ viết “xử lý theo quy định của pháp luật”, và người viết chưa đọc nghị định xử phạt.
- Việc từng cửa hàng, hộ kinh doanh hay cá nhân cho thuê xe có nằm trong nhóm ngoại lệ nào ở Điều 4 hay không.
- Số phận của Thông tư 32/2013/TT-NHNN sau 01/12/2026, và liệu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản mới hướng dẫn Điều 31a chưa.
- Việc đổi tiền, tỷ giá, thẻ quốc tế và khai báo tiền mặt khi nhập cảnh, vốn nằm ngoài phạm vi bài.
Để kiểm tra trước khi dựa vào bài, hãy mở Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn) hoặc vanban.chinhphu.vn, tìm số hiệu Luật 23/2026/QH16 và Thông tư 32/2013/TT-NHNN, xem tình trạng hiệu lực cùng các văn bản sửa đổi, hướng dẫn mới nhất, và ghi lại ngày bạn đọc. Số liệu và quy định có thể thay đổi sau ngày 22/10/2026.
Nguồn tham khảo
- Văn bản hợp nhất 28/VBHN-NHNN: Thông tư 32/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam (vbpl.vn), đọc ngày 22/10/2026: Điều 3, Điều 4, Điều 6.
- Tài liệu giới thiệu Luật số 23/2026/QH16 của Vụ Pháp chế (sav.gov.vn), đọc ngày 22/10/2026: Điều 31a và hiệu lực từ 01/12/2026.
- Trang văn bản Luật số 23/2026/QH16 trên vanban.chinhphu.vn, đọc ngày 22/10/2026: ngày ban hành 24-08-2026, ngày có hiệu lực 01-12-2026.
- Văn bản hợp nhất 140/2026/VBHN-PL-VPQH về Pháp lệnh Ngoại hối, Công báo số 527 ngày 25/9/2026 (tệp PDF), đọc ngày 22/10/2026: định nghĩa ngoại hối, người cư trú, chú thích bãi bỏ Điều 22.

