IDP Công ước Viên 1968 tại Việt Nam, tức giấy phép lái xe quốc tế do quốc gia thành viên Công ước Viên cấp, được Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 công nhận là giấy phép có giá trị sử dụng, nhưng chỉ khi đi kèm giấy phép lái xe quốc gia. Khoản 8 Điều 57 viết IDP phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia thành viên cấp theo một mẫu thống nhất, có thời hạn không quá 03 năm kể từ ngày cấp và phải phù hợp với thời hạn còn hiệu lực của giấy phép lái xe quốc gia. Người lái phải mang theo cả IDP lẫn giấy phép lái xe quốc gia phù hợp với hạng xe điều khiển, còn thời hạn sử dụng, và tuân thủ pháp luật giao thông của Việt Nam. Theo câu chữ của Luật, IDP đứng một mình là chưa đủ. Luật đã được sửa đổi một số điều, nên bạn cần kiểm tra bản hiện hành trước chuyến đi.
Bài đọc nguyên văn khoản 6 và khoản 8 Điều 57 trong hai bản: toàn văn Luật đăng ngày 09/09/2024 trên cổng xaydungchinhsach.chinhphu.vn và văn bản hợp nhất 55/VBHN-VPQH ban hành ngày 23-03-2026, cùng một trang của Cổng thông tin phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Thái Nguyên đăng 30/07/2024, tất cả đọc ngày 20/10/2026. Bài chỉ nói điều Luật Việt Nam viết về IDP của người lái xe tại Việt Nam: không hướng dẫn xin IDP ở nước ngoài, không khẳng định nước nào là thành viên Công ước Viên, không nêu mức phạt và không nêu giấy tờ hay chính sách của đơn vị cho thuê xe nào. Các trang chính phủ nước ngoài viết khác nhau về IDP khi đi xe máy ở Việt Nam đã được tóm trong bài bằng lái quốc tế khi đi xe máy ở Việt Nam: vì sao trang Anh, Úc, Ireland và Mỹ viết khác nhau; bài này đi theo chiều ngược lại, từ câu chữ của Luật Việt Nam. Đây không phải tư vấn pháp lý.
IDP Công ước Viên 1968 tại Việt Nam: khoản 6 Điều 57 công nhận những giấy phép nào
Điều 57 khoản 6 viết: “Giấy phép lái xe có giá trị sử dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam bao gồm” bốn nhóm:
- Điểm a: giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
- Điểm b: “Giấy phép lái xe quốc tế và giấy phép lái xe quốc gia phù hợp với loại xe được phép điều khiển do quốc gia là thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Giao thông đường bộ năm 1968 (sau đây gọi là Công ước Viên) cấp”.
- Điểm c: giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển của nước hoặc vùng lãnh thổ mà Việt Nam ký kết điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế công nhận giấy phép lái xe của nhau.
- Điểm d: giấy phép lái xe nước ngoài phù hợp với loại xe được phép điều khiển do quốc gia được công nhận theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điểm b là nhóm của bài này. Nó nhắc đồng thời hai loại giấy: giấy phép lái xe quốc tế và giấy phép lái xe quốc gia, và cả hai gắn với cụm “phù hợp với loại xe được phép điều khiển”. Điểm c và d là các cơ chế công nhận khác qua điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế; bài không bàn. Luật định nghĩa “Công ước Viên” là Công ước của Liên hợp quốc về Giao thông đường bộ năm 1968 và, trong các khoản đã đọc, không liệt kê quốc gia thành viên nào. Người viết không khẳng định nước nào là thành viên; để biết IDP của bạn thuộc loại nào, hãy hỏi cơ quan đã cấp nó.
Khoản 8 Điều 57: mẫu thống nhất và thời hạn không quá 03 năm của IDP
Điều 57 khoản 8 điểm a viết: “Giấy phép lái xe quốc tế là giấy phép lái xe do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia là thành viên của Công ước Viên cấp theo một mẫu thống nhất; có thời hạn không quá 03 năm kể từ ngày cấp và phải phù hợp với thời hạn còn hiệu lực của giấy phép lái xe quốc gia.” Câu này có bốn ý:
- Ai cấp: cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia thành viên Công ước Viên.
- Mẫu: “một mẫu thống nhất”.
- Thời hạn: “không quá 03 năm kể từ ngày cấp”.
- Liên hệ với bằng quốc gia: thời hạn của IDP “phải phù hợp với thời hạn còn hiệu lực của giấy phép lái xe quốc gia”.
Cụm “phải phù hợp” không được giải thích trong khoản này. Người viết đọc là ngày hết hạn của IDP không nên vượt ngày hết hạn của giấy phép lái xe quốc gia; đó là cách đọc của người viết, nên hãy kiểm tra ngày hết hạn của cả hai giấy. Khoản 7 nêu hai trường hợp giấy phép lái xe không có hiệu lực: hết thời hạn sử dụng, và bị thu hồi theo khoản 5 Điều 62. Người viết không đọc điều nào nói rõ khoản này áp dụng thế nào với giấy phép nước ngoài, nên chỉ nêu để bạn nhớ kiểm tra hạn.
Đừng nhầm hạn “không quá 03 năm” của IDP với hạn của giấy phép lái xe Việt Nam. Khoản 5 viết giấy phép lái xe các hạng A1, A, B1 “không thời hạn”; con số 03 năm chỉ thuộc về IDP.
Phải mang kèm bằng gốc: vì sao IDP một mình chưa đủ
Điều 57 khoản 8 điểm b viết: “Người có giấy phép lái xe quốc tế do quốc gia là thành viên của Công ước Viên cấp khi lái xe tham gia giao thông đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam phải mang theo giấy phép lái xe quốc tế và giấy phép lái xe quốc gia được cấp phù hợp với hạng xe điều khiển, còn thời hạn sử dụng; phải tuân thủ pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của Việt Nam.” Có ba điều kiện và một nghĩa vụ:
- Mang theo cả hai giấy: IDP và giấy phép lái xe quốc gia.
- Giấy phép quốc gia phù hợp với hạng xe điều khiển: hạng ghi trên bằng gốc phải khớp loại xe bạn đang lái.
- Còn thời hạn sử dụng: câu chữ đặt cụm này sau giấy phép lái xe quốc gia.
- Tuân thủ pháp luật giao thông của Việt Nam: IDP không miễn trừ quy định nào.
Điều 56 khoản 1 nhắc nguyên tắc tương tự cho mọi người lái xe: khi tham gia giao thông phải mang theo “Giấy phép lái xe phù hợp với loại xe đang điều khiển”, cùng các giấy tờ của xe như chứng nhận đăng ký xe. Với xe thuê, giấy tờ của xe thuộc phần bài không bàn; hãy hỏi đơn vị cho thuê. Luật cũng không nói gì về bản chụp giấy phép trong các đoạn đã đọc, nên bài không coi bản chụp thay được bản gốc.
Hạng xe trên bằng phải khớp loại xe đang lái
Cụm “phù hợp với hạng xe điều khiển” dẫn tới câu hỏi bằng của bạn có ghi hạng áp dụng cho xe máy hay không. Điều 57 khoản 1 phân hạng cho giấy phép của Việt Nam: hạng A1 “cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến 125 cm3 hoặc có công suất động cơ điện đến 11 kW”, hạng A cho xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh trên 125 cm3 hoặc công suất động cơ điện trên 11 kW. Những con số này là ranh giới giữa các hạng của Việt Nam. Trong các khoản đã đọc, Luật không nêu cách đối chiếu hạng của giấy phép nước ngoài với hạng ở Việt Nam, và người viết không khẳng định cách đối chiếu nào.
Gợi ý của người viết: xem trên bằng quốc gia và trên IDP loại xe hay hạng nào được ghi, biết dung tích xi-lanh hoặc công suất của chiếc xe định thuê, và hỏi cơ quan có thẩm quyền hoặc đơn vị cho thuê nếu không chắc hạng của bạn có bao gồm xe đó. Bài các loại bằng lái xe máy hiện nay và cách phân biệt từng hạng giải thích các hạng A1, A và B1 của Việt Nam. Điều 56 khoản 1 còn loại trừ “người lái xe gắn máy quy định tại khoản 4 Điều này” khỏi yêu cầu có giấy phép; bài này không bàn loại xe đó, và bài xe 50cc có cần bằng lái không đã nói riêng.
Vi phạm giao thông và thời gian tước quyền sử dụng IDP
Điều 57 khoản 8 điểm c viết: “Người có giấy phép lái xe quốc tế vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của Việt Nam mà bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có thời hạn thì thời gian bị tước quyền sử dụng không quá thời gian người lái xe được phép cư trú tại lãnh thổ Việt Nam.” Hai điều rút ra: một, có IDP không loại trừ việc chịu xử lý theo pháp luật Việt Nam; hai, nếu bị tước quyền sử dụng có thời hạn, thời gian tước bị chặn trên bằng thời gian người đó được phép cư trú tại Việt Nam. Người viết chưa đọc điều nào về hành vi vi phạm cụ thể, mức xử phạt hay thủ tục tước quyền sử dụng, nên bài không nêu những nội dung đó.
Người có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú: IDP trong khoản 8 điểm d
Điều 57 khoản 8 điểm d viết rằng người Việt Nam hoặc người nước ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam, có giấy phép lái xe do Việt Nam hoặc quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cấp, còn giá trị sử dụng, “nếu có nhu cầu được cấp giấy phép lái xe quốc tế”. Điểm này nói về việc cấp IDP cho người đang ở Việt Nam, không phải điều kiện để du khách dùng IDP do nước họ cấp. Bài không hướng dẫn thủ tục xin IDP.
Văn bản hợp nhất, Luật 118/2025/QH15 và Thông tư 108/2026/TT-BCA: điều cần kiểm tra lại
Cổng văn bản của Chính phủ ghi Luật số 36/2024/QH15 ban hành 27-06-2024 và có hiệu lực 01-01-2025. Văn bản hợp nhất 55/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội, ban hành ngày 23-03-2026, ghi ở đầu rằng Luật được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 118/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025, sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, “có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026”.
Người viết so hai bản của Điều 57: khoản 5 đến khoản 8 giống nhau từng chữ, còn khoản 9 khác. Bản 2024 giao Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định mẫu giấy phép lái xe và IDP, trình tự, thủ tục cấp và việc sử dụng. Bản hợp nhất ghi Bộ trưởng Bộ Công an cho nội dung đó, kèm chú thích: “Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 7 của Luật số 118/2025/QH15”.
Điều đó liên quan vì cổng văn bản của Chính phủ cho thấy Thông tư số 108/2026/TT-BCA của Bộ Công an, tên đầy đủ “Quy định về sát hạch, cấp giấy phép lái xe; cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế”, ban hành 29-06-2026 và có hiệu lực 01-07-2026. Người viết chỉ đọc trang giới thiệu của Thông tư (số hiệu, ngày ban hành, ngày hiệu lực, trích yếu) và không mở được tệp PDF đính kèm, nên không nói Thông tư quy định gì về việc sử dụng IDP. Nếu bạn là người lái xe nước ngoài, phần về “sử dụng giấy phép lái xe quốc tế” của Thông tư này là chỗ nên đọc tiếp.
Trang của Cổng thông tin phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Thái Nguyên (30/07/2024) chép lại bốn ý của khoản 8 và ghi Luật “có hiệu lực thi hành từ 01/01/2025”. Trang đăng trước các thay đổi nêu trên, nên bài dùng nó chỉ như bản trích khoản 8, còn câu chữ được đối chiếu với hai bản toàn văn.
Chuẩn bị giấy tờ trước chuyến đi: gợi ý của người viết
Phần này là gợi ý chung của người viết, không phải điều kiện do Luật nêu thêm:
- Mang bản gốc cả hai giấy: IDP và giấy phép lái xe quốc gia. Luật viết “mang theo”; phần đã đọc không nói về bản chụp.
- Kiểm tra hạn của cả hai: IDP không quá 03 năm kể từ ngày cấp, giấy phép lái xe quốc gia còn thời hạn sử dụng.
- Kiểm tra loại xe hoặc hạng ghi trên hai giấy có bao gồm xe máy bạn định lái, và biết dung tích hoặc công suất của chiếc xe đó.
- Hỏi nơi cấp IDP để biết IDP của bạn thuộc loại nào, và hỏi cơ quan công an hoặc cảnh sát giao thông địa phương nếu còn mơ hồ. Lưu câu trả lời kèm ngày.
- Hỏi đơn vị cho thuê họ yêu cầu giấy tờ lái xe nào trước khi đặt xe. Đó là yêu cầu của từng đơn vị, không phải điều kiện của Luật.
- Đọc lại văn bản hợp nhất và Thông tư 108/2026/TT-BCA gần ngày đi.
Nếu đây là lần đầu bạn chạy xe máy ở Việt Nam, bài lần đầu chạy xe máy ở Việt Nam: Anh, Úc, Canada và cổng du lịch quốc gia dặn gì trước khi thuê tóm các lời khuyên an toàn. Về việc xuất trình giấy tờ khi bị dừng kiểm tra, bài cảnh sát giao thông dừng xe kiểm tra: căn cứ dừng, xuất trình giấy tờ và quyền của người lái giải thích quy trình.
Nguồn tham khảo
- Luật số 36/2024/QH15 của Quốc hội: Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cổng văn bản của Chính phủ, đọc ngày 20/10/2026.
- Văn bản hợp nhất số 55/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội: Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cổng văn bản của Chính phủ, đọc ngày 20/10/2026.
- Văn bản hợp nhất 55/VBHN-VPQH, tệp PDF toàn văn trên datafiles.chinhphu.vn, đọc ngày 20/10/2026 (Điều 56 khoản 1, Điều 57 và chú thích 25).
- Toàn văn Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cổng xaydungchinhsach.chinhphu.vn, đăng 09/09/2024, đọc ngày 20/10/2026 (Điều 57).
- Thông tư số 108/2026/TT-BCA của Bộ Công an: Quy định về sát hạch, cấp giấy phép lái xe; cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế, cổng văn bản của Chính phủ, đọc ngày 20/10/2026 (chỉ trang giới thiệu văn bản).
- Quy định về giấy phép lái xe quốc tế theo Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, Cổng thông tin phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Thái Nguyên, đăng 30/07/2024, đọc ngày 20/10/2026.
