Nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ ở Gia Lâm là nghề đập vàng, bạc nguyên chất thành những lá quỳ rất mỏng để thếp lên câu đối, hoành phi, tượng và tranh sơn mài. Theo hồ sơ của Cục Di sản văn hóa, quy trình gồm ba khâu chính là làm quỳ mới, đập diệp và làm quỳ cũ, sau đó mới thếp lên sản phẩm; mỗi quỳ vàng phải đập khoảng một giờ liên tục, trên 400 nhát búa. Làng giữ nghề đến nay vì nghề mang lại việc làm và thu nhập cho phần lớn hộ dân, đòi hỏi sự cảm nhận của người thợ mà hồ sơ cho rằng chưa máy móc nào thay được, và gắn với lệ làng, lễ khai Tràng cùng giỗ Tổ nghề. Bài này đi qua từng bước, nêu rõ chỗ các nguồn nói khác nhau và gợi ý cách tìm hiểu làng nghề cho phải phép.
Thông tin trong bài lấy từ ba nguồn đọc ngày 18/10/2026: hồ sơ tư liệu “Nghề quỳ vàng, bạc Kiêu Kỵ” trên trang của Cục Di sản văn hóa và hai bài của Báo Hà Nội Mới, một bài về lễ đón nhận chứng nhận ghi danh và một bài về phát triển làng nghề. Các nguồn nói khác nhau ở một số chi tiết như tuổi nghề, kích thước lá quỳ và số lá dát được từ một chỉ vàng, nên bài ghi từng số kèm nguồn. Số nhát búa, số lá, thời gian đập và các số đo khác là mô tả của hồ sơ, không phải tiêu chuẩn tuyệt đối. Các nguồn không nêu việc đón khách vào xưởng, giá vàng quỳ hay giá sản phẩm, nên bài cũng không nêu.
Nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ ở Gia Lâm là nghề gì và Kiêu Kỵ nằm ở đâu
Hồ sơ của Cục Di sản ghi nghề quỳ vàng bạc thuộc làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Báo Hà Nội Mới gọi là xã Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm) và, trong bài về lễ đón nhận chứng nhận ghi danh, nhắc Kiêu Kỵ là làng nghề truyền thống thuộc đất Đông Ngàn – Kinh Bắc xưa, nay thuộc huyện Gia Lâm. Bài này giữ nguyên cách ghi của từng nguồn; đơn vị hành chính có thể được điều chỉnh theo thời gian, nên hãy đối chiếu với thông báo mới nhất của địa phương khi tra đường.
Theo hai bài của Hà Nội Mới, Kiêu Kỵ là làng duy nhất trong cả nước, hay duy nhất ở Việt Nam, chuyên làm dát vàng, bạc, quỳ. Bài về phát triển làng nghề viết rằng vàng quỳ, bạc quỳ của làng là nguyên liệu dùng trong xây dựng, trang trí các đình, đền, chùa, nhà thờ, trong nghệ thuật điêu khắc và hội họa. Hồ sơ của Cục Di sản mô tả cách dùng cụ thể hơn: người thợ dùng chiếc bay rất mỏng làm bằng xương hoặc bằng mảnh tre vát mỏng để dát vàng lên các sản phẩm, còn họa sĩ dùng bút vẽ với dầu sơn chấm vào vàng quỳ để vẽ lên tranh sơn mài. Câu “làng duy nhất” là cách giới thiệu của báo và của đại diện địa phương được báo trích lại; bài này không tự kiểm chứng điều đó.
Về nguyên liệu chính, hồ sơ cho biết đó là vàng, bạc nguyên chất; ngày nay, nhờ công nghệ phát triển, người Kiêu Kỵ chỉ cần đặt mua vàng hoặc bạc là được.
Tuổi nghề, tổ nghề và những chỗ các nguồn nói khác nhau
Theo hồ sơ của Cục Di sản, nghề xuất hiện cách đây khoảng trên 400 năm, thời Hậu Lê. Tổ nghề là ông Nguyễn Quý Trị; tương truyền, khi đi sứ Trung Quốc ông học được nghề dát đập vàng bạc để sơn thếp câu đối, hoành phi, tượng, rồi về nước chỉ truyền nghề cho dân làng Kiêu Kỵ. Cũng theo tương truyền, sau khi truyền nghề, vào ngày 17 tháng Tám âm lịch, ông bỏ đi và không rõ tung tích. Từ đó dân làng suy tôn ông làm Tổ nghề quỳ vàng bạc và lấy ngày ông ra đi làm ngày giỗ Tổ nghề hằng năm. Đó là truyền thuyết của làng, được ghi lại như hồ sơ mô tả chứ không phải điều bài này khẳng định là lịch sử.
Bảng dưới đây gom những chi tiết mà các nguồn nói khác nhau hoặc nói không nhất quán, để bạn không phải tự đối chiếu.
| Chi tiết | Hồ sơ của Cục Di sản | Báo Hà Nội Mới | Cách bài này xử lý |
|---|---|---|---|
| Tuổi nghề | Khoảng trên 400 năm, thời Hậu Lê | Hơn 300 năm trước, thời Hậu Lê, theo sử sách, trong bài về lễ đón nhận chứng nhận | Nêu cả hai số, không chọn một số |
| Kích thước lá giống hay lá quỳ | Giấy dó pha thành miếng vuông nhỏ 5 cm, xưa pha hình chữ nhật | Lá quỳ có cạnh dài 4 cm, kén từ giấy dó mỏng và dai | Nêu cả hai; nguồn không giải thích chỗ lệch |
| Số lá từ một chỉ vàng | Đoạn đầu viết một chỉ vàng đập mỏng thành 980 lá có diện tích lớn hơn 1 m²; đoạn khác viết rộng gần 1 m² | Không nêu | Nêu cả hai cách viết của cùng trang, không chọn một số |
| Số hộ làm nghề | Không nêu | Một hợp tác xã và 13 tổ hợp tác với 60 hộ cá thể; đoạn đã đọc không ghi năm | Nêu kèm lưu ý không rõ năm |
Hồ sơ còn có một chi tiết khác mà người đọc dễ bỏ qua: mỗi quỳ có 500 lá quỳ và được bó thành 10 buộc, một chỉ vàng hay bạc đánh được 22 buộc, tức 2,2 quỳ. Nếu nhân theo số trong hồ sơ thì 2,2 quỳ ứng với 1.100 lá, khác với 980 lá ở đoạn đầu. Đây là phép tính của người viết từ các số trong cùng một trang, không phải câu có sẵn trong nguồn, và hồ sơ không giải thích chỗ lệch, nên bài này chỉ nêu để bạn thấy các con số cụ thể trong hồ sơ có thể không khớp nhau.
Vật liệu và dụng cụ: giấy dó, keo da trâu, mực nhà nấu, búa và đe đá
Phần này gom các vật liệu và dụng cụ mà hồ sơ nêu. Các thuật ngữ của nghề được giải thích đơn giản theo đúng ngữ cảnh trong hồ sơ, không thêm công dụng ngoài nguồn.
| Vật liệu hoặc dụng cụ | Điều hồ sơ nêu |
|---|---|
| Giấy dó | Làm lá giống, pha thành miếng vuông nhỏ, xếp thành xấp 500 lá; mỗi xấp làm thành một quỳ vàng hoặc một quỳ bạc |
| Keo da trâu | Da trâu đã loại hết mỡ, đun với nước sạch khoảng 48 giờ liên tục. Trước đây người làng mua da tươi về nấu; nay mua da khô về nấu keo hoặc mua keo làm sẵn ở phố Hàng Hòm |
| Mực | Các gia đình tự nấu, không mua mực tàu vì khi lướt mực tàu trên lá giống thì vàng sẽ không giãn ra được. Mực làm từ nhựa thông, bồ hóng, mùn cưa theo tỷ lệ riêng của từng gia đình, rồi đun lên |
| Búa đánh quỳ | Mặt búa được chỉnh có độ vát 15 độ; búa sắt dùng khi đánh nặng khoảng 5 kg |
| Đe | Một hòn đe bằng đá xanh nguyên khối |
| Miếng đá nhỏ hình thang | Nghiêng 35 độ, dùng để lướt, tức bôi, mực vào lá giống hay lá vỡ |
| Đai buộc quỳ | Làm bằng loại vải dày như vải ka ki |
| Bay mỏng | Dùng để chại bạc, chại vỡ hoặc lấy quỳ ra xếp thành xấp quỳ |
| Lá vả | Dùng để phơi khô các lá giống sau khi lướt mực xong |
Có hai điểm đáng chú ý. Một là hồ sơ nhấn mạnh việc các gia đình tự nấu mực theo tỷ lệ riêng, gọi đó là bí kíp của từng gia đình làm nghề. Hai là hồ sơ coi công đoạn làm lá giống là quan trọng nhất, vì nó quyết định chất lượng của việc dát mỏng vàng bạc về sau.
Từng bước làm quỳ theo hồ sơ: lá giống, cán vàng, cắt dòng, đánh vỡ, đánh quỳ và trại quỳ
Hồ sơ của Cục Di sản mô tả các bước như sau. Những con số trong từng bước là của hồ sơ.
- Làm lá giống. Giấy dó được pha thành miếng vuông nhỏ cỡ 5 cm, xếp thành từng xấp dày 500 lá; mỗi xấp như vậy sẽ làm thành một quỳ vàng hay một quỳ bạc về sau.
- Cán vàng hay bạc. Vàng, bạc được pha chế rồi cho vào nồi nấu trên bếp lò có bễ kéo bằng tay cho chảy ra, đổ vào rãnh nhỏ bằng nửa chiếc đũa thành thỏi dài 10 cm. Theo kinh nghiệm của các cụ cao niên trong nghề, một chỉ vàng hay một chỉ bạc cán dài được 2 m là vừa đẹp.
- Cắt dòng. Sợi vàng hoặc bạc được cắt thành từng đoạn nhỏ bằng móng tay, khoảng 1 cm², gọi là diệp.
- Đánh vỡ. Những miếng diệp được đặt vào giữa các lá vỡ, buộc thành từng vỡ và xếp vào lồng cho lên bếp lò sấy một đêm. Sau đó bịt đai chặt lại, người thợ cầm búa sắt nặng khoảng 5 kg gõ nhịp nhàng vào giữa thếp lá giống kẹp vàng đặt trên hòn đe đá xanh nguyên khối, một tay gõ, tay kia đồng thời xoay đều thếp lá giống. Thao tác này gọi là “đánh”.
- Đánh quỳ. Quỳ được xếp vào lồng và sấy nóng một đêm. Trung bình mỗi quỳ vàng hay quỳ bạc cựu phải đánh liên tục khoảng một tiếng để quỳ “dừ”, một cách nói của nghề mà hồ sơ không giải thích thêm. Hồ sơ ước tính một chỉ vàng hay một chỉ bạc cựu có thể dát mỏng ra được rộng gần 1 m².
- Trại quỳ thu thành phẩm. Theo lệ của nghề, mỗi quỳ vàng hay quỳ bạc có 500 lá quỳ và được bó thành 10 buộc. Khâu cuối cùng là thu hồi sản phẩm; hồ sơ nói người làm phải xoa phấn rôm vào tay cho khỏi dính quỳ để không bị hao hụt nguyên liệu và sản phẩm.
Hồ sơ gọi toàn bộ quy trình sản xuất dát vàng bạc là có ba khâu chính: làm quỳ mới, đập diệp và làm quỳ cũ, sau đó mới thếp lên sản phẩm. Hồ sơ không nói rõ từng bước ở trên thuộc khâu nào trong ba khâu, nên bài này không gán từng bước vào từng khâu.
Hồ sơ cũng nhấn mạnh quy trình được tiến hành theo trình tự rất nghiêm ngặt: không làm lẫn khâu sau lên khâu trước và không làm tắt hay bỏ bớt một khâu nào. Về sức lao động, hồ sơ cho biết để có một quỳ vàng, người thợ phải đập khoảng một giờ đồng hồ liên tục, tính ra trên 400 nhát búa. Ở giai đoạn cuối, khi gỡ vàng, người thợ phải làm việc trong phòng kín, đeo khẩu trang và ngồi trong màn, vì chỉ cần vô ý thở mạnh là vàng sẽ bị bay.
Vì sao làng giữ nghề đến nay: việc làm, tay nghề, lệ làng và tổ chức sản xuất
Không nguồn nào nêu thẳng một câu trả lời cho “vì sao làng giữ nghề”. Năm điểm dưới đây là cách người viết gom lại những gì các nguồn nói:
- Việc làm và thu nhập. Hồ sơ của Cục Di sản viết rằng nghề quỳ vàng bạc đã giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm, mang lại thu nhập chủ yếu cho phần lớn hộ dân trong làng, tạo ra sự ổn định kinh tế – xã hội ở địa phương.
- Tay nghề khó thay bằng máy. Hồ sơ nói nghề đòi hỏi sự công phu, kiên trì và khéo léo, nhiều công đoạn cần sự tỉ mỉ và cảm nhận chính xác của con người mà không máy móc nào thay thế được. Hồ sơ cũng viết rằng việc đập một chỉ vàng thành hàng trăm lá có diện tích lớn hơn 1 m² hiện chưa có máy móc nào làm được.
- Nhu cầu dùng quỳ. Theo Hà Nội Mới, vàng quỳ, bạc quỳ của làng được dùng cho xây dựng, trang trí đình, đền, chùa, nhà thờ, điêu khắc và hội họa; theo hồ sơ, họa sĩ cũng dùng vàng quỳ vẽ lên tranh sơn mài.
- Lệ làng và Tổ nghề. Hồ sơ nêu một tục lệ đặc biệt: người trong làng muốn học nghề đều phải làm lễ khấn Tổ nghề, còn người lạ ở địa phương khác đến xin việc ít khi được chủ cơ sở chấp nhận vì khó kiểm soát việc thất thoát vàng. Ngày 11 và 12 tháng Giêng, các gia đình làm nghề làm lễ khai Tràng, dâng lễ vật, cầu mong Tổ nghề phù hộ trước khi bắt tay vào sản xuất của một năm mới; lễ giỗ Tổ nghề do dân làng tổ chức vào ngày 17 tháng Tám.
- Tổ chức sản xuất hiện nay. Theo bài về phát triển làng nghề của Hà Nội Mới, làng có Hợp tác xã Công nghiệp quỳ vàng Kiêu Kỵ và 13 tổ hợp tác với 60 hộ cá thể tham gia; đoạn đã đọc không ghi năm của số liệu này. Bài này còn nhắc Kiêu Kỵ nổi tiếng với nghề làm đồ dùng bằng da và giả da, du nhập vào làng nghề từ năm 1970.
Về vị thế di sản, hồ sơ cho biết nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 826/QĐ-BVHTTDL ngày 09 tháng 3 năm 2021. Báo Hà Nội Mới thuật lại buổi lễ sáng 12/10 của xã Kiêu Kỵ, trong đó có việc đón nhận chứng nhận ghi danh nghề quỳ, vàng, bạc Kiêu Kỵ; đoạn đã đọc không ghi năm tổ chức, nên bài này không nêu năm.
Tìm hiểu làng nghề Kiêu Kỵ cho phải phép: hỏi trước và tôn trọng lệ làng
Các nguồn đã đọc không nói gì về việc đón khách tham quan xưởng hay xem đập quỳ. Hồ sơ chỉ viết rằng người lạ ít khi được chủ cơ sở nhận làm việc vì khó kiểm soát thất thoát vàng; đó là chuyện nhận người học việc, không phải chuyện khách tham quan, nhưng cũng cho thấy các cơ sở rất thận trọng với vàng. Vì vậy phần này chỉ là gợi ý chung của người viết:
- Đừng mặc định xem được xưởng. Hãy hỏi trước, qua UBND xã, hợp tác xã hoặc người quen ở địa phương, rằng có thể ghé thăm hay không và vào thời gian nào. Bài này không giới thiệu cơ sở cụ thể và không nêu giá.
- Làm theo hướng dẫn của chủ cơ sở. Hồ sơ mô tả khâu gỡ vàng phải làm trong phòng kín vì chỉ cần thở mạnh là vàng bay. Nếu được vào xưởng, hãy giữ im lặng, đứng đúng chỗ được chỉ và không tự ý chạm vào quỳ, dụng cụ hay thành phẩm.
- Hỏi trước khi chụp ảnh hoặc quay phim. Mực và tỷ lệ pha mực là bí kíp riêng của từng gia đình theo hồ sơ, nên hãy tôn trọng nếu chủ cơ sở không muốn bị ghi hình.
- Hiểu các ngày lễ của làng. Lễ khai Tràng ngày 11 và 12 tháng Giêng và giỗ Tổ nghề ngày 17 tháng Tám là các dịp lễ của gia đình làm nghề và dân làng. Nguồn không nói khách được tham dự, nên hãy coi đó là dịp để tìm hiểu thêm chứ không phải lịch tham quan.
- Đi xe máy: chỉ gợi ý chung. Hãy gửi xe ở điểm do địa phương bố trí hoặc điểm được chủ nhà đồng ý, không đỗ xe dưới lòng đường hay chặn lối vào của dân, và đi chậm khi vào đường làng.
Để đặt Kiêu Kỵ vào một chuyến ra ngoại thành, bài 15 địa điểm du lịch ngoại thành Hà Nội đi về trong ngày liệt kê nhiều lựa chọn khác. Nếu bạn quan tâm đến một nghề thủ công khác được ghi danh di sản quốc gia, bài bánh cuốn Thanh Trì: nghề làm bánh được ghi danh di sản quốc gia trình bày một trường hợp khác với nguồn riêng. Còn về cách chọn xe cho đường ngoại thành, bài chọn xe ga hay xe côn tay khi đi ngoại thành Hà Nội giúp so sánh hai loại xe.
Trang này thuộc website Cho Thuê Xe Máy Nguyễn Tú, địa chỉ 112 Nguyễn Văn Cừ, Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội. Nếu bạn định thuê xe để đi tìm hiểu làng nghề, hãy nói rõ lịch trình khi nhận xe và tự kiểm tra phanh, lốp, đèn, xăng trước khi đi; bài này không nêu giá thuê hay điều kiện thuê.
Nguồn tham khảo
- Nghề quỳ vàng, bạc Kiêu Kỵ, hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa, trang không ghi ngày trong nội dung đã đọc, đọc ngày 18/10/2026.
- Nghề dát quỳ, vàng, bạc Kiêu Kỵ được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Báo Hà Nội Mới, bài về buổi lễ sáng 12/10, đoạn đã đọc không ghi năm, đọc ngày 18/10/2026.
- Kiêu Kỵ phát triển làng nghề truyền thống, Báo Hà Nội Mới (nhipsonghanoi.hanoimoi.vn), đoạn đã đọc không ghi ngày, đọc ngày 18/10/2026.