Thủ tục và giao nhận

Tai nạn xe máy có bảo hiểm bắt buộc: báo trong 5 ngày làm việc, hồ sơ gồm gì, tạm ứng 3 ngày

Mục lục bài viết
  1. Bảo hiểm bắt buộc bồi thường cho ai và đến mức nào
  2. Ngay khi tai nạn xảy ra: những việc phải làm theo Điều 12
  3. Các mốc thời gian: 1 giờ, 24 giờ, 3 ngày làm việc, 5 ngày làm việc và 15 ngày
  4. Hồ sơ bồi thường theo Điều 13: phần chủ xe thu thập và phần doanh nghiệp bảo hiểm thu thập
  5. Các trường hợp loại trừ gắn với người lái: giấy phép, độ tuổi, bỏ chạy và nồng độ cồn
  6. Người thuê hoặc người mượn xe: ai là chủ xe cơ giới và nên báo cho ai
  7. Văn bản sửa đổi và những điểm chưa chắc
  8. Nguồn tham khảo

Tai nạn xe máy có bảo hiểm bắt buộc thì theo Điều 12 Nghị định 67/2023/NĐ-CP, bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm qua đường dây nóng, rồi gửi thông báo tai nạn bằng văn bản hoặc hình thức điện tử trong 5 ngày làm việc kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) và tự thu thập phần hồ sơ thuộc trách nhiệm của mình theo Điều 13. Về phía doanh nghiệp bảo hiểm, nghị định đặt các mốc: hướng dẫn hồ sơ, thủ tục trong 1 giờ, tổ chức giám định tổn thất trong 24 giờ và tạm ứng bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng trong 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo.

Bài này tổng hợp những điều đó từ năm nguồn đọc ngày 21/10/2026: bản Nghị định 67/2023/NĐ-CP đăng trên luatvietnam.vn (trang của đơn vị tư nhân, không phải trang nhà nước), trang văn bản của Chính phủ, bài của Cục Cảnh sát giao thông ngày 31/08/2023, trả lời của Bộ Tài chính đăng trên baochinhphu.vn ngày 04/10/2024 và Nghị định 220/2026/NĐ-CP. Bài không nêu phí bảo hiểm, không nhắc tên doanh nghiệp bảo hiểm nào và không bàn về quy trình của bất kỳ cửa hàng cho thuê xe nào. Số điều có thể thay đổi, nên hãy đối chiếu văn bản hiện hành trước khi làm thủ tục.

Bảo hiểm bắt buộc bồi thường cho ai và đến mức nào

Điều 5 Nghị định 67/2023/NĐ-CP xác định đối tượng bảo hiểm bắt buộc là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành khách. Điều 7 cụ thể hóa hai nhóm được bồi thường: thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng và tài sản của người thứ ba do xe gây ra, và thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của hành khách trên chính chiếc xe đó. Thiệt hại của chính người lái xe và chiếc xe của họ không nằm trong hai nhóm được liệt kê này.

Điều 3 giải thích hai khái niệm đáng đọc kỹ. Người thứ ba là người bị thiệt hại do xe gây ra, trừ người lái xe, người trên xe, hành khách trên chính chiếc xe đó và chủ sở hữu xe, trừ khi chủ sở hữu đã giao xe cho tổ chức, cá nhân khác chiếm hữu, sử dụng. Còn chủ xe cơ giới là chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe. Từ 01/7/2026, theo Nghị định 220/2026/NĐ-CP, cụm từ “người thứ ba” trong nhiều điều của Nghị định 67/2023 được đổi thành “bên thứ ba”; nội dung giữ nguyên, chỉ khác tên gọi.

Về mức trần, Điều 6 nêu giới hạn 150 triệu đồng cho một người trong một vụ tai nạn về sức khỏe, tính mạng, và 50 triệu đồng trong một vụ về thiệt hại tài sản do xe mô tô hai bánh, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) gây ra. Phần còn lại về phí và quyền lợi khi mua bảo hiểm đã có trong bài bảo hiểm xe máy bắt buộc gồm những gì và điều cần lưu ý khi mua; bài này tập trung vào thủ tục sau tai nạn.

Ngay khi tai nạn xảy ra: những việc phải làm theo Điều 12

Khoản 1 Điều 12 nêu bốn trách nhiệm của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm khi tai nạn xảy ra:

  1. Thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm vào đường dây nóng để phối hợp giải quyết, tích cực cứu chữa, hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn.
  2. Không di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
  3. Chủ động thu thập và cung cấp các tài liệu trong hồ sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của mình (theo Điều 13).
  4. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm khi xác minh các tài liệu do mình cung cấp.

Đường dây nóng không chỉ là thủ tục trên giấy: theo trả lời của Bộ Tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phải thiết lập đường dây nóng 24/7 để tiếp nhận thông tin tai nạn, hướng dẫn, giải đáp cho chủ xe, và phải ghi âm các cuộc gọi đến để bảo đảm quyền lợi của chủ xe. Bài của Cục Cảnh sát giao thông cũng nhắc hai ý này. Các nguồn không nói số đường dây nóng in ở đâu trên giấy chứng nhận bảo hiểm, nên gợi ý của người viết là tìm và lưu số này trong điện thoại từ trước khi đi đường.

Hai lưu ý thực tế (gợi ý của người viết): điểm đầu tiên luôn là cứu chữa và an toàn, nên việc gọi đường dây nóng đi cùng, không thay thế, việc gọi cấp cứu hay báo công an; và điều cấm di chuyển hay sửa tài sản có ngoại lệ vì an toàn, nên khi cần hãy ưu tiên đưa người và xe ra chỗ an toàn.

Các mốc thời gian: 1 giờ, 24 giờ, 3 ngày làm việc, 5 ngày làm việc và 15 ngày

Bảng dưới đây xếp các mốc theo thứ tự thời gian, nêu rõ bên nào phải làm.

MốcBên phải làmViệc phải làmCăn cứ
Ngay khi tai nạn xảy raChủ xe, người được bảo hiểmGọi đường dây nóng của doanh nghiệp bảo hiểmĐiểm a khoản 1 Điều 12
Trong 1 giờ kể từ khi nhận thông báoDoanh nghiệp bảo hiểmHướng dẫn biện pháp an toàn, hồ sơ, thủ tục yêu cầu bồi thườngKhoản 2 Điều 12
Trong 24 giờDoanh nghiệp bảo hiểm cùng các bênTổ chức giám định tổn thất, xác định nguyên nhân và mức độKhoản 2 Điều 12
Trong 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báoDoanh nghiệp bảo hiểmTạm ứng bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạngKhoản 3 Điều 12
Trong 5 ngày làm việc kể từ ngày xảy ra tai nạnChủ xe, người được bảo hiểmGửi thông báo tai nạn bằng văn bản hoặc điện tử (trừ bất khả kháng, trở ngại khách quan)Khoản 4 Điều 12
15 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệDoanh nghiệp bảo hiểmThanh toán bồi thườngTheo bài của Cục Cảnh sát giao thông

Một vài điểm dễ nhầm:

  • “Thông báo ngay” và “thông báo trong 5 ngày làm việc” là hai bước khác nhau. Bước đầu là cuộc gọi vào đường dây nóng; bước sau là thông báo bằng văn bản hoặc điện tử. Nếu không gửi thông báo theo khoản 4, khoản 7 cho phép doanh nghiệp bảo hiểm giảm trừ tối đa 5% số tiền bồi thường thiệt hại đối với tài sản.
  • Tạm ứng 3 ngày làm việc chỉ nói về thiệt hại sức khỏe, tính mạng, không phải thiệt hại tài sản. Mức tạm ứng phụ thuộc việc vụ tai nạn đã xác định thuộc phạm vi bồi thường hay chưa: khi đã xác định thì 70% mức bồi thường ước tính cho một người trong một vụ nếu tử vong, 50% nếu tổn thương bộ phận; khi chưa xác định thì 30% giới hạn trách nhiệm một người trong một vụ nếu tử vong và ước tính tỷ lệ tổn thương từ 81% trở lên, hoặc 10% giới hạn trách nhiệm nếu ước tính tỷ lệ tổn thương từ 31% đến dưới 81%.
  • Nếu sau đó vụ tai nạn thuộc trường hợp loại trừ hoặc không thuộc phạm vi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu Quỹ bảo hiểm xe cơ giới hoàn trả khoản đã tạm ứng; nguồn không nói người nhận tạm ứng phải hoàn trả.
  • Mốc 15 ngày thanh toán chỉ được người viết đọc trong bài của Cục Cảnh sát giao thông (đăng 31/08/2023); phần Nghị định 67/2023 đọc ở đây dừng ở Điều 13 nên người viết không nêu số điều của mốc này.

Hồ sơ bồi thường theo Điều 13: phần chủ xe thu thập và phần doanh nghiệp bảo hiểm thu thập

Điều 13 liệt kê bảy nhóm tài liệu. Khoản cuối nêu rõ bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm thu thập và gửi các tài liệu ở khoản 1, 2, 3, 4 và 7; doanh nghiệp bảo hiểm thu thập khoản 5 và 6. Trả lời của Bộ Tài chính cũng nêu cách phân chia này.

KhoảnTài liệuBên thu thập
1Văn bản yêu cầu bồi thườngChủ xe, người được bảo hiểm
2Tài liệu về xe và người lái: giấy chứng nhận đăng ký xe (hoặc chứng từ chuyển quyền sở hữu và nguồn gốc xe nếu không có), giấy phép lái xe, giấy tờ tùy thân của người lái (căn cước công dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác), giấy chứng nhận bảo hiểmChủ xe, người được bảo hiểm
3Tài liệu chứng minh thiệt hại về sức khỏe, tính mạng: giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án, hoặc giấy tờ liên quan đến trường hợp tử vongChủ xe, người được bảo hiểm
4Tài liệu chứng minh thiệt hại tài sản: hóa đơn, chứng từ hoặc bằng chứng sửa chữa, thay mới; chứng từ chi phí đã chi để giảm thiểu tổn thấtChủ xe, người được bảo hiểm
5Bản sao tài liệu của cơ quan công an trong vụ tai nạn gây tử vong đối với người thứ ba và hành khách, hoặc khi cần xác minh lỗi hoàn toàn của người thứ baDoanh nghiệp bảo hiểm
6Biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được ủy quyềnDoanh nghiệp bảo hiểm
7Quyết định của Tòa án (nếu có)Chủ xe, người được bảo hiểm

Bài của Cục Cảnh sát giao thông nêu thêm những điểm giảm gánh nặng cho người nộp hồ sơ: chủ xe có thể cung cấp bản ảnh chụp tài liệu liên quan đến xe, lái xe, và có thể cung cấp bằng chứng về việc sửa chữa, thay mới tài sản khi không có hóa đơn, chứng từ; còn cơ quan công an có trách nhiệm cung cấp bản sao tài liệu trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả điều tra tai nạn giao thông. Hãy tách mốc 5 ngày làm việc này khỏi mốc 5 ngày làm việc gửi thông báo ở trên: đây là hai việc của hai bên khác nhau.

Gợi ý của người viết: ngay từ đầu, chụp ảnh giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy đăng ký xe, giấy phép lái xe của người lái, chụp hiện trường và xe, và lưu hóa đơn sửa chữa nếu có, vì phần lớn tài liệu ở khoản 2 và khoản 4 do chủ xe tự chuẩn bị.

Các trường hợp loại trừ gắn với người lái: giấy phép, độ tuổi, bỏ chạy và nồng độ cồn

Khoản 2 Điều 7 liệt kê các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường. Những điểm gắn với người lái xe gồm:

  • Người lái xe không đủ điều kiện về độ tuổi theo quy định; không có giấy phép lái xe hoặc dùng giấy phép lái xe không hợp lệ theo pháp luật về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ; giấy phép bị tẩy xóa, hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe bắt buộc phải có giấy phép. Người lái bị tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc bị thu hồi giấy phép được coi là không có giấy phép.
  • Người lái gây tai nạn cố ý bỏ chạy, không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe. Nếu bỏ chạy nhưng đã thực hiện trách nhiệm đó thì không thuộc trường hợp loại trừ.
  • Thiệt hại đối với tài sản do người lái có nồng độ cồn vượt mức theo hướng dẫn của Bộ Y tế, hoặc sử dụng ma túy, chất kích thích bị cấm. Điểm này chỉ nói về thiệt hại đối với tài sản; bài không viết rằng nồng độ cồn làm mất mọi quyền bồi thường, và các nguồn đã đọc không nói gì thêm về thiệt hại sức khỏe, tính mạng của nạn nhân trong trường hợp này.

Ngoài ra khoản 2 còn loại trừ hành động cố ý gây thiệt hại, hậu quả gián tiếp, tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn, tài sản đặc biệt như vàng, bạc, đá quý và thiệt hại do chiến tranh, khủng bố, động đất. Về giấy phép lái xe nước ngoài hay giấy phép lái xe quốc tế, người viết không đọc nguồn nào kết luận chúng có “hợp lệ” theo điểm này hay không; bạn có thể xem điều kiện hiệu lực của IDP ở bài IDP theo Công ước Viên 1968 tại Việt Nam và hỏi doanh nghiệp bảo hiểm khi cần.

Người thuê hoặc người mượn xe: ai là chủ xe cơ giới và nên báo cho ai

Theo định nghĩa ở Điều 3, chủ xe cơ giới gồm cả người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp chiếc xe. Người viết chưa đọc điều nào nói rõ người thuê xe có phải tự gửi thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm hay không, và các nguồn không bàn về xe thuê, vì vậy bài không kết luận ai phải làm việc gì trong một vụ thuê xe cụ thể.

Gợi ý của người viết nếu bạn đang cầm lái xe không đứng tên mình: báo ngay cho chủ xe về vụ tai nạn, hỏi bản chụp giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực và số đường dây nóng, chụp ảnh hiện trường và giấy tờ như đã nêu, rồi thống nhất với chủ xe ai gửi thông báo trong 5 ngày làm việc. Nếu có tranh chấp về trách nhiệm bồi thường giữa chủ xe và người thuê, đó là vấn đề dân sự khác; bài xe máy thuê gây tai nạn: chủ xe hay người thuê phải bồi thường theo Điều 601 Bộ luật Dân sự bàn riêng phần đó. Nếu bạn là khách nước ngoài có bảo hiểm du lịch, bài bảo hiểm du lịch khi đi xe máy ở Việt Nam nói về những điều nên kiểm tra ở loại bảo hiểm đó, khác với bảo hiểm bắt buộc trong bài này.

Văn bản sửa đổi và những điểm chưa chắc

Nghị định 67/2023/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 06/09/2023, có hiệu lực từ cùng ngày, theo trang văn bản của Chính phủ. Theo trang đó, Nghị định 220/2026/NĐ-CP ban hành ngày 22/06/2026 và có hiệu lực từ 01/7/2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023.

Bản toàn văn Nghị định 220/2026 mà người viết đọc trên luatvietnam.vn cho thấy các điều sửa nội dung là Điều 32, 33, 34, 37, 38, 45 và 58 của Nghị định 67, nói về bảo hiểm cho công trình xây dựng; cùng với việc thay Phụ lục III, Mẫu số 3 Phụ lục X và một số cụm từ (trong đó có đổi “người thứ ba” thành “bên thứ ba” tại cả Điều 3, 5, 7, 12 và 13). Trong bản đọc, người viết không thấy điều nào sửa các mốc thời gian ở Điều 12 hay danh mục hồ sơ ở Điều 13. Dù vậy, bài này dùng số điều theo Nghị định 67/2023 và không thay thế bản hợp nhất; hãy kiểm tra bản hiện hành.

Một số điểm bài chưa trả lời: ai cụ thể phải gửi thông báo khi xe không đứng tên người lái; hậu quả khi gửi thông báo sau 5 ngày làm việc ngoài khoản giảm trừ tối đa 5% đối với tài sản; cách áp dụng giấy phép lái xe nước ngoài ở điểm c khoản 2 Điều 7; và mốc 15 ngày thanh toán ở điều nào của nghị định. Mọi nội dung trên là thông tin đọc ngày 21/10/2026.

Nguồn tham khảo

Chia sẻ Facebook Zalo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *