Lễ hội đình Chèm, theo trang Cục Di sản văn hóa, diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Năm âm lịch hằng năm trong đình Chèm, chùa làng và bến Ngự trên sông Hồng, do ba làng kết nghĩa anh em Chèm, Hoàng Xá và Hoàng Liên cùng tổ chức. Ngày 14 là chính hội với lễ rước nước, ngày 15 có lễ mộc dục vào chính Ngọ cùng lễ thả chim bồ câu, ngày 16 rước nước lấy nước dùng trong năm và tế hậu hội vào buổi chiều; trước hội hai ngày dân làng làm lễ phục y và thi nấu chè kho. Hiện nay năm năm mới có một hội lớn, những năm hội lệ chỉ rước nước về và mộc dục tại chỗ. Báo Hà Nội Mới cho biết năm 2024 lễ hội diễn ra từ 19 đến 21-6, một ví dụ cho việc phải đổi ngày âm lịch sang dương lịch theo từng năm.
Bài dựa trên hai nguồn: trang “Lễ hội đình Chèm” thuộc hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa (dsvh.gov.vn) và bài “Khai mạc lễ hội truyền thống Đình Chèm” của Nhịp sống Hà Nội (Báo Hà Nội Mới), đăng ngày 19/06/2024. Các trang được đọc ngày 18/10/2026 và đối chiếu lại toàn bài ngày 19/10/2026. Mô tả nghi lễ trong bài là mô tả của hồ sơ nên được ghi là “theo hồ sơ”; các tích về Lý Ông Trọng được ghi như nguồn kể hoặc “tương truyền”, không thẩm định như sử liệu. Hai nguồn không nêu giờ rước của một năm cụ thể, tuyến rước, vé hay chỗ gửi xe, nên bài không nêu những điều đó và không nêu ngày dương lịch của các năm sau. Phần gợi ý ở cuối bài là lời khuyên chung của người viết, không phải thông báo của địa phương; địa danh ghi theo nguồn và có thể đã thay đổi.
Đình Chèm ở đâu và lễ hội tưởng nhớ ai
Theo trang Cục Di sản, đình Chèm, còn gọi là đền Chèm, thuộc phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Hà Nội Mới nêu thêm các tên đền Lý Hiệu Úy và Thụy Hương từ, và cho biết đình nằm bên dòng sông Hồng, đã trải qua hơn ngàn năm lịch sử, thờ chính Đức Hy Khang thiên vương Lý Ông Trọng cùng Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung. Trang Cục Di sản viết hội đình Chèm được tổ chức nhằm tưởng nhớ công lao của Lý Ông Trọng, và cho biết nhân dân trong vùng thường gọi ngài là Đức Ông, Đức Thánh Cả hay Đức Thánh Chèm; một số người gọi duệ hiệu của ngài là Hy Khang Thiên Vương để tránh phạm húy.
Hai nguồn kể về Lý Ông Trọng bằng hai cách. Trang Cục Di sản dẫn Đại Việt sử ký toàn thư: ngài là người Từ Liêm, quận Giao Chỉ, vóc dáng cao to lạ thường, giỏi giang; ngài sang nước Tần, làm quan trấn thủ đất Lâm Thao, chống lại quân Hung Nô; khi tuổi cao ngài xin về nước và mất tại làng Chèm, người dân nơi đây thờ phụng và coi ngài là Thành hoàng. Hà Nội Mới viết ngài sinh ra ở làng Chèm, làm quan thời Hùng Vương và thời An Dương Vương, có công đánh giặc giữ nước ở cả hai triều đại và còn giúp vua Tần dẹp giặc Hung Nô; bài báo còn nhắc tấm bia chữ Nôm tại đình, do Tiến sĩ Nghiêm Xuân Quảng soạn vào năm Khải Định thứ hai, khắc ghi công đức của Đức Thánh Chèm. Đây là những tích nguồn kể lại; bài này không đối chiếu chúng với sử liệu.
Về mục đích của lễ hội, hai nguồn cũng nhấn mạnh hai khía cạnh. Trang Cục Di sản nói hội tưởng nhớ công lao Lý Ông Trọng và viết rằng, theo tương truyền, ngày hội là ngày Đức Thánh Chèm khao quân. Hà Nội Mới dẫn lời Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong buổi khai mạc năm 2024: lễ hội truyền thống đình Chèm còn gọi là Pháp hội, nhằm tri ân và tưởng niệm những chiến binh đã hy sinh vì đất nước.
Ba làng kết nghĩa anh em: Chèm là anh cả, Hoàng Xá là anh hai, Hoàng Liên là anh ba
Theo trang Cục Di sản, việc tổ chức hội do nhân dân ba làng kết nghĩa anh em cùng thực hiện. Làng Chèm, hiện thuộc phường Thụy Phương, thờ chính và được gọi là anh cả. Làng Hoàng Xá và làng Hoàng Liên, hiện thuộc phường Liên Mạc, thờ vọng và lần lượt là anh hai, anh ba. Trang cho biết cách xưng hô này thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa ba làng, và người dân không rõ việc kết nghĩa có từ bao giờ, chỉ biết đời trước truyền cho đời sau như vậy. Khi tổ chức lễ hội, thôn anh cả chịu trách nhiệm chính, kể cả kinh phí, đồng thời được quyền phân công công việc phục vụ hội cho thôn anh hai và anh ba.
Hà Nội Mới gọi ba làng bằng một cách khác: làng Chèm, làng Hoàng và làng Mạc, trong đó Hoàng và Mạc nay là tổ dân phố Hoàng Xá và Hoàng Liên của phường Liên Mạc. Phần mô tả rước nước của trang Cục Di sản cũng dùng cách gọi “ba làng Chèm, Hoàng Xá và Liên Mạc”. Nếu bạn gặp các tên khác nhau này, hãy hiểu chúng là các cách gọi của nguồn cho ba khu dân cư của đình Chèm; Hà Nội Mới tự giải thích rằng làng Hoàng và làng Mạc nay là tổ dân phố Hoàng Xá và Hoàng Liên. Bài này dùng tên Hoàng Xá và Hoàng Liên theo trang Cục Di sản.
Vai trò anh cả, anh hai, anh ba còn xuất hiện trong nghi lễ rước nước: theo hồ sơ, trên thuyền nhỏ có ba chóe nước là chóe của Đức Ông do làng anh cả phụ trách, chóe của Đức Bà do làng anh hai phụ trách và chóe của ông Sứ do làng anh ba phụ trách.
Lịch Lễ hội đình Chèm từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Năm âm lịch theo hồ sơ
Bảng dưới đây tóm tắt trình tự trong hồ sơ của Cục Di sản. Đây là trình tự đầy đủ của một mùa hội; phần sau của bài sẽ nói vì sao không phải năm nào cũng có đủ mọi phần.
| Ngày âm lịch | Việc chính theo hồ sơ |
|---|---|
| 12 tháng Năm | Lễ phục y: các cụ thay y phục cho các vị thần được thờ gồm Đức Thánh Chèm, Đức Bà, Ông Sứ, Lục vị vương (con của Đức Thánh Chèm), ông quản voi và hai nàng hầu |
| 13 tháng Năm | Buổi sáng, nhân dân thi nấu chè kho tại đình |
| 14 tháng Năm, chính hội | Khai mạc lễ hội; lễ rước nước (đoàn rước kiệu làm lễ tại đình rồi xuống thuyền ra giữa sông lấy nước); lễ phát tấu; cúng phan; cúng Phật; rước văn từ đình đến chùa, chiều rước văn từ chùa về đình |
| 15 tháng Năm | Rước nước như ngày 14; lễ bài ban; lễ mộc dục vào chính Ngọ tại hai tòa tiểu vương đình; mộc dục cụ Sứ; lễ thả chim bồ câu; cúng quá độ; cúng khai quang yên vị |
| 16 tháng Năm | Sáng rước nước, nước rước về cho vào chóe dùng trong năm; chiều rước văn từ đình về chùa để tế hậu hội (tế kết thúc hội) |
Hồ sơ cũng nêu những dịp làm lễ tại đình ngoài mùa hội: ngày kỵ của Đức Thánh Chèm (mùng 10 tháng Giêng), ngày kỵ của Đức Bà (mùng 10 tháng Hai), hoặc vào ngày Rằm và mùng Một. Cùng trang đó, ở đoạn nói về việc chuẩn bị hội, lại ghi mùng 2 tháng Hai là ngày kỵ của Đức Bà, sau ngày này các cụ trong làng bắt đầu họp bàn tổ chức hội. Hai mốc cho ngày kỵ của Đức Bà không khớp nhau và trang không giải thích, nên bài không khẳng định ngày nào là ngày kỵ.
Rước nước ngày 14: thuyền ra giữa sông Hồng, vòng càn khôn và ba chóe nước
Theo hồ sơ, lễ rước nước mở đầu bằng việc đoàn rước kiệu làm lễ tại đình Chèm rồi xuất phát từ đình, xuống thuyền ra giữa sông lấy nước. Đoàn thuyền gồm hai thuyền. Thuyền nhỏ chở ba chóe nước cùng các em học sinh cầm gáo, xô và vòng càn khôn, cụ Chủ tế và hai cụ trong đội tế của đình. Thuyền lớn hơn chở đội rồng, sư tử, các cụ trong đội tế, đội dâng hương và những người tham gia lễ hội. Hà Nội Mới, trong chú thích ảnh năm 2024, nhắc cả cảnh đoàn rước nước đường bộ xuống thuyền ở bến Ngự và lễ rước nước đường thủy.
Hồ sơ mô tả đoàn thuyền đi một vòng hết địa phận ba làng rồi quay ba vòng, đi chậm và dừng lại. Người ta thả vòng càn khôn làm bằng cây song để cụ Chủ tế dùng gáo đồng múc nước vào chóe, mỗi chóe ba gáo, chóe nào dùng gáo của chóe đó. Lấy nước xong, đoàn thuyền quay về nơi xuất phát; khi qua đình, các thuyền quay đầu vào để lễ Đức Thánh. Về đến đình, chóe nước được rước vào hậu cung, rồi chuyển nước vào các chĩnh khác để ngày 15 dùng nước này làm lễ mộc dục.
Trang Cục Di sản giải thích ý nghĩa chung của phần này: hội đình Chèm là sự kết hợp chặt chẽ giữa tín ngưỡng thờ thành hoàng làng với tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp thông qua lễ rước nước, cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an. Ngày 15 dân làng rước nước như ngày 14, còn ngày 16 nước rước về buổi sáng được cho vào chóe dùng trong năm.
Phát tấu, cúng phan, cúng Phật và rước văn: phần cầu siêu của ngày chính hội
Hồ sơ chép rằng, theo tương truyền, lễ hội được tổ chức sau khi Đức Thánh thắng trận trở về: ngài lập đàn chay cúng phát tấu, cúng Phật, cúng phan, cúng khai quang, cúng quá độ để cầu siêu và cầu bình an, nên trong lễ hội hiện nay phải thực hiện đầy đủ các nghi lễ này. Hồ sơ nêu thêm một điểm riêng: sớ cúng trong dịp lễ hội ở đình Chèm phải ghi đầy đủ các mỹ tự trong hai mươi bốn đạo sắc phong của Đức Thánh.
Lễ phát tấu là nghi lễ thỉnh mời ngũ vị sứ giả ở trên thiên đình về dự hội, đồng thời cầu siêu cho các vong hồn chết oan trong chiến trận. Cúng phan được các thầy cúng làm ngoài cổng đình, cầu mong những vong hồn chết oan ở ngoài sông Hồng, phía trước cổng đình, có thể bấu víu vào lá cờ Phật. Cúng Phật là nghi lễ thỉnh Phật về chứng kiến các nghi lễ trong lễ hội. Trong số này, lễ phát tấu và cúng phan đều gắn với lời cầu cho vong hồn chết oan; điều đó phù hợp với việc Hà Nội Mới, dẫn phát biểu khai mạc năm 2024, mô tả lễ hội là dịp tri ân và tưởng niệm các chiến binh đã hy sinh, dù hai nguồn không nối trực tiếp hai ý này với nhau.
Về rước văn, hồ sơ cho biết đoàn rước văn đi từ đình đến chùa gồm một người đánh trống khẩu, Chủ tế rước hộp văn và một người cầm lọng che hộp văn; hộp văn được đặt lên ban thờ của chùa, chiều ngày 14 dân làng rước văn từ chùa về đình, sau đó đội tế làm lễ tế nhập tịch. Theo hồ sơ, đội tế có hai mươi ba người nhưng tế chính thức có mười sáu người, gồm người của cả ba làng; riêng Chủ tế nhất thiết phải là người làng Chèm, làng Hoàng Xá cử một người làm Bồi Bái còn làng Hoàng Liên đứng chầu để hỗ trợ các cụ.
Hồ sơ cũng ghi rằng từ năm 1990 hội đình Chèm có thêm một số yếu tố mới, đặc biệt là các nghi lễ liên quan đến Phật giáo và Đạo giáo như mời pháp sư làm lễ cúng khi làm lễ mộc dục, phát tấu, cúng phan, cúng khai quang, cúng quá độ, và các vị sư tăng làm lễ cúng Phật, lễ thả chim để cầu siêu và cầu bình an. Hai câu về nguồn gốc của các lễ cúng (tương truyền có từ sau trận thắng của Đức Thánh, và có thêm yếu tố mới từ năm 1990) cùng nằm trong hồ sơ mà không được giải thích thêm, nên bài không kết luận phần nào cũ, phần nào mới.
Ngày 15: lễ mộc dục bảy gáo nước, mộc dục cụ Sứ và lễ thả chim bồ câu
Theo hồ sơ, ngày 15 mở đầu bằng rước nước như ngày 14, rồi các cụ trong Ban Khánh tiết, Ban Tế tự cùng đội phù giá làm lễ bài ban, tức xin dọn ban thờ của Đức Ông và Đức Bà ở hậu cung để chuẩn bị rước hai ngài ra ngoài. Lễ mộc dục diễn ra tại hai tòa tiểu vương đình vào chính Ngọ. Người tham gia mộc dục cho Đức Ông và Đức Bà gồm năm người: Chủ tế, Tả văn, Trưởng ban Khánh tiết tại đình và hai bà phù giá. Việc mộc dục cho Đức Bà phải do hai phù giá nữ thực hiện; hồ sơ nêu họ phải là người làng Chèm, lấy chồng ở làng, góa chồng, từ sáu mươi tuổi trở lên và có phẩm chất đạo đức tốt.
Các cụ dùng bảy gáo nước để mộc dục theo trình tự mà hồ sơ liệt kê: trên đầu (ba gáo), bên phải (một gáo), bên trái, phía trước (một gáo) và phía sau (một gáo), tổng cộng bảy gáo theo hồ sơ. Theo các cụ, con số bảy biểu hiện cho bảy vì tinh tú. Sau đó mặc trang phục cho các ngài.
Điều đáng lưu ý với người đi xem là hồ sơ mô tả việc này được che chắn. Khi rước long ngai của hai ngài từ ban thờ lên kiệu, kiệu đặt ở giữa cửa gian hậu cung có rèm che, quân phù giá đứng xung quanh kiệu che không cho người ngoài nhìn thấy, và tất cả những người trực tiếp tham gia rước đều phải bịt miệng bằng khăn đỏ. Vì vậy bài không hứa rằng khách xem được lễ mộc dục.
Hồ sơ còn nêu ba phần khác trong ngày 15. Lễ mộc dục cụ Sứ diễn ra khoảng ba giờ chiều tại nhà vuông, một căn nhà tạm dựng ngoài cổng đình và tháo ra khi hết hội; theo hồ sơ, mọi người dâng năm lễ cho cụ Sứ trong khi lễ Thánh dâng bốn lễ. Lễ thả chim bồ câu được hồ sơ mô tả là cầu mong những con chim cõng vong hồn chết oan lên thiên đình, đồng thời lên đó mời các vị thần về dự hội; Hà Nội Mới gọi nghi lễ này là lễ phóng điểu (thả chim câu). Cúng quá độ do pháp sư thực hiện: khi làm lễ mộc dục, pháp sư đứng trước cửa đình làm lễ đuổi tà ma xâm nhập vào các ngài, và sau khi mộc dục, pháp sư ngồi tại gian Đại bái làm lễ cho các ngài nghỉ ngơi. Cuối ngày, theo hồ sơ, có lễ cúng khai quang yên vị; sau lễ này đồ thờ không được di chuyển và không ai được động đến.
Mốc giờ trong hồ sơ, như chính Ngọ cho lễ mộc dục hay khoảng ba giờ chiều cho mộc dục cụ Sứ, là cách hồ sơ mô tả trình tự của mùa hội, không phải lịch giờ của một năm cụ thể. Bài không nêu giờ nào khác và khuyên bạn hỏi chương trình của đúng năm.
Hội lớn năm năm một lần và hội lệ: không phải năm nào cũng có đủ mọi phần
Hồ sơ viết rằng hiện nay năm năm nhân dân tổ chức hội lớn một lần. Vào những năm tổ chức hội lớn sẽ có rước văn và làm lễ mộc dục cho các ngài tại tòa tiểu vương đình hoặc nhà vuông. Những năm hội lệ, nhân dân chỉ tổ chức rước nước về và mộc dục tại chỗ.
| Nội dung | Năm hội lớn | Năm hội lệ |
|---|---|---|
| Chu kỳ | Năm năm một lần | Các năm còn lại |
| Rước văn | Có | Hồ sơ không nêu |
| Mộc dục | Làm lễ mộc dục cho các ngài tại tòa tiểu vương đình hoặc nhà vuông | Mộc dục tại chỗ |
| Rước nước | Có | Chỉ rước nước về |
Vì vậy bảng lịch ngày ở trên là trình tự đầy đủ, và không nên hiểu rằng năm nào bạn đến cũng thấy đủ mọi phần. Hai nguồn không nêu năm hội lớn kế tiếp. Bài Hà Nội Mới về năm 2024 nói lễ hội năm đó có quy mô cấp quận, nhưng không nói năm 2024 là năm hội lớn hay hội lệ; “quy mô cấp quận” và “hội lớn” là hai cách nói khác nhau, nên bài không đánh đồng.
Kiêng kỵ và tục hèm: lễ chay, màu vàng, hành tỏi và cách tránh phạm húy
Theo hồ sơ, hội đình Chèm có một số kiêng kỵ và tục hèm. Trong các ngày hội chỉ dâng lễ chay. Nhân dân không mặc trang phục màu vàng khi dự hội, vì họ quan niệm đây là màu hoàng bào nhà vua ban cho Đức Thánh, chỉ có Đức Thánh mới được mặc. Người trong phường không đặt tên con trùng với tên của Đức Ông, Đức Bà; để tránh phạm húy, nhân dân trong vùng thường gọi chệch từ “Trọng” thành “Trượng” và từ “Thân” thành “Thơn”. Người ra đình không được ăn hành, tỏi. Cụ Từ ở đình không được đi dự đám tang, phải sống tại đình, thỉnh chuông báo cho ngài biết trời sáng và trời tối vào lúc năm giờ sáng và năm giờ chiều, và thỉnh ba hồi chuông báo ngài có người đến lễ.
Hồ sơ nói các điều này là kiêng kỵ của nhân dân địa phương khi dự hội, nhưng không nói chúng áp dụng thế nào với khách đến xem. Điều dễ làm theo nhất là tránh mặc màu vàng khi đến dự hội. Với các điều còn lại, hãy hỏi người địa phương hoặc ban quản lý di tích thay vì tự suy đoán.
Ví dụ năm 2024: ngày 19 đến 21-6 và các hoạt động theo Hà Nội Mới
Bài Hà Nội Mới đăng ngày 19/06/2024 cho biết ngày 19-6 quận Bắc Từ Liêm tổ chức khai mạc Lễ hội truyền thống Đình Chèm năm 2024. Bài viết lễ hội được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Năm hằng năm, và năm 2024 diễn ra với quy mô cấp quận trong ba ngày, từ 19 đến 21-6. Hai câu đặt cạnh nhau cho thấy ba ngày 19 đến 21-6 của năm 2024 ứng với ba ngày 14 đến 16 tháng Năm âm lịch của năm đó; bài báo không viết rõ chữ “tức là”, nên đây là cách hiểu của người viết, khớp với việc khai mạc diễn ra đúng ngày 19-6. Năm khác thì ngày dương lịch khác, nên bài không nêu ngày của năm sau.
Các hoạt động tiêu biểu năm 2024 theo bài báo gồm rước nước trên sông Hồng, rước văn, lễ mộc dục, lễ phóng điểu (thả chim câu); các hội thi nấu chè kho, bơi, cờ người, tổ tôm điếm; và chương trình nghệ thuật Đình Chèm “Dấu thiêng miền đất cổ”. Bài báo cũng ghi lãnh đạo quận đề nghị các phường Thụy Phương, Liên Mạc và ban tổ chức bảo đảm an ninh trật tự, không để xảy ra mê tín dị đoan, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng, chống cháy nổ. Đó là yêu cầu của năm đó đối với phía tổ chức, không phải thông báo dành cho khách.
Ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Theo trang Cục Di sản, với ý nghĩa và giá trị của di sản, Lễ hội đình Chèm được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2067/QĐ-BVHTTDL ngày 13/6/2016. Trang này tóm tắt giá trị của hội là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ thành hoàng làng với tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp, vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, vừa củng cố quan hệ xã hội và tinh thần đoàn kết giữa các làng xã.
Cách xem Lễ hội đình Chèm cho đúng phép tắc
Hai nguồn không có chương trình từng giờ, tuyến rước hay chỗ gửi xe của một năm cụ thể, nên phần này là gợi ý chung của người viết, không gán cho cơ quan hay tờ báo nào.
- Hỏi năm đó là hội lớn hay hội lệ. Hồ sơ nói năm hội lớn có rước văn và mộc dục tại tòa tiểu vương đình hoặc nhà vuông, còn năm hội lệ chỉ rước nước về và mộc dục tại chỗ, nên điều bạn thấy khác nhau.
- Đổi ngày âm lịch sang dương lịch của đúng năm. Mốc là ngày 14 đến 16 tháng Năm âm lịch; ví dụ năm 2024 là 19 đến 21-6, các năm khác sẽ khác. Bài hội Gióng Phù Đổng và đền Sóc: hai mùa hội ở hai nơi, mốc âm lịch và cách xem hội cho đúng có các ví dụ có nguồn về cách đọc mốc âm lịch.
- Chọn phần muốn xem. Theo hồ sơ, rước nước trên sông diễn ra cả ba ngày 14, 15 và 16, hội thi nấu chè kho ở đình diễn ra vào ngày 13, còn lễ mộc dục được mô tả là có che chắn. Nguồn không nói khách được xuống thuyền, vào hậu cung hay dự mộc dục.
- Tránh màu vàng và dâng lễ chay. Theo hồ sơ, nhân dân không mặc màu vàng khi dự hội và trong ngày hội chỉ dâng lễ chay. Nếu bạn định mang lễ, hãy hỏi trước.
- Ăn mặc kín đáo, lịch sự và hỏi trước khi chụp ảnh. Bài trang phục, ứng xử và chụp ảnh khi vào đền chùa ở Việt Nam tổng hợp lời khuyên chung từ cổng du lịch quốc gia và các trang tư vấn nước ngoài.
- Đứng xa mép nước và làm theo hướng dẫn của ban tổ chức. Rước nước diễn ra trên sông Hồng và ở bến Ngự; hãy đứng ở khu vực dành cho người xem, không chen sát bờ nước hay vào đoàn rước.
- Giữ khoảng cách với đoàn rước và khu hành lễ. Không chắn lối đi của đoàn, không tự ý chạm vào kiệu, đồ thờ hay lễ vật.
Nếu đi xe máy, đây cũng chỉ là gợi ý chung. Các nguồn không nêu khoảng cách, đường đi hay chỗ gửi xe; những ngày hội thường đông người đi bộ nên hãy đi chậm, gửi xe ở chỗ được chỉ dẫn và không dựng xe chắn lối vào đình hay bến. Nếu bạn muốn ghép buổi xem hội với một chuyến đi xa hơn quanh Hà Nội, bài địa điểm du lịch ngoại thành Hà Nội: 15 nơi đẹp đi về trong ngày và bài top địa điểm du lịch đẹp ở Hà Nội gợi ý các điểm đến.
Nếu bạn quan tâm đến một lễ hội làng khác ở Hà Nội cũng có nghi thức gắn với sông nước, bài lễ hội chùa Láng: lịch 5–8 tháng Ba âm lịch và chuyện rước kiệu qua sông Tô Lịch kể về một mùa hội ở một vùng khác của thành phố.
Những điều bài này chưa thể khẳng định
- Ngày dương lịch của lễ hội ở các năm sau năm 2024, và năm nào là năm hội lớn kế tiếp.
- Giờ của từng nghi lễ trong một năm cụ thể, tuyến rước, phân luồng giao thông, chỗ gửi xe, vé hay điều kiện dành cho khách.
- Việc khách có được lên thuyền rước nước, vào hậu cung, dự lễ mộc dục hay tham gia các nghi lễ khác hay không.
- Ngày kỵ của Đức Bà (mùng 10 hay mùng 2 tháng Hai): trang Cục Di sản ghi hai ngày khác nhau.
- Phần nào của các lễ cúng là cũ, phần nào là yếu tố thêm từ năm 1990: hồ sơ nêu cả hai nhưng không giải thích.
- Tính xác thực lịch sử của các tích về Lý Ông Trọng; đó là điều nguồn kể lại hoặc dẫn sách.
- Địa giới hành chính hiện hành của ba làng và các phường sau khi có thể đã được sắp xếp lại.
Nguồn tham khảo
- Lễ hội đình Chèm, hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa, đọc ngày 18/10/2026 và đối chiếu lại ngày 19/10/2026.
- Khai mạc lễ hội truyền thống Đình Chèm, Nhịp sống Hà Nội (Báo Hà Nội Mới), đăng ngày 19/06/2024, đọc ngày 18/10/2026 và đối chiếu lại ngày 19/10/2026.