Lễ hội Năm làng Mọc, theo trang giới thiệu của Cục Di sản văn hóa, diễn ra từ mùng 10 đến 12 tháng Hai âm lịch; từ năm 1992 các làng thống nhất năm năm mở hội lớn một lần vào ngày 11 và 12 tháng Hai, luân phiên từng làng làm cai (đăng cai). Làng đăng cai quyết định ngày rước chung: ngày 11 nếu là Quan Nhân hoặc Phùng Khoang, ngày 12 nếu là Giáp Nhất hoặc Cự Chính. Những năm không phải hội lớn, từng làng vẫn mở hội làng theo tập tục, nên không thể mặc định năm nào cũng có đám rước chung. Tên gọi vẫn giữ chữ “năm làng”, còn trang Cục Di sản cho biết nay còn bốn làng đăng cai luân phiên, vì vậy bài này ghi rõ từng nguồn nói gì thay vì tự chốt một con số.
Bài dựa trên hai nguồn đọc ngày 18/10/2026: trang “Lễ hội năm làng Mọc” thuộc hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa (dsvh.gov.vn) và bài “Lễ hội Năm làng Mọc: Nét đẹp làng quê giữa chốn đô thành” trên Nhịp sống Hà Nội của Báo Hà Nội Mới. Hai nguồn không nêu giá vé, tuyến cấm đường, chỗ gửi xe hay chương trình của một năm cụ thể, nên bài không nêu những điều đó và cũng không đổi ngày âm lịch sang dương lịch. Truyền thuyết và các vị thành hoàng được ghi theo hồ sơ hoặc “tương truyền”, không bình luận đúng sai. Phần gợi ý ở cuối bài là lời khuyên chung của người viết, không phải thông báo của địa phương; ngày lễ hội và địa giới hành chính có thể đã thay đổi, nên hãy kiểm tra thông báo mới nhất trước khi đi.
Lễ hội Năm làng Mọc gồm những làng nào và vì sao gọi là “năm làng”
Theo trang Cục Di sản văn hóa, lễ hội năm làng Mọc xưa gồm năm làng là Giáp Nhất, Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Khoang. Về sau Cự Lộc và Chính Kinh nhập lại thành Cự Chính, nên nay còn bốn làng: Giáp Nhất, Cự Chính, Quan Nhân và Phùng Khoang. Trang này mô tả đây là lễ hội vùng dọc sông Tô Lịch, tổ chức tại bốn đình thuộc hai quận: các đình Giáp Nhất, Cự Chính và Quan Nhân ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, còn đình Phùng Khoang ở phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm. Đó là cách ghi địa danh của nguồn; đơn vị hành chính có thể đã đổi, nên nếu cần tìm đúng nơi hãy hỏi thông tin hiện hành của chính quyền địa phương.
Chữ “năm làng” vì thế là tên gọi truyền thống của lễ hội, không phải con số được đếm lại mỗi năm. Điều dễ gây bối rối là ngay trong các nguồn, cách viết cũng chưa thống nhất. Trang Cục Di sản nói nay còn bốn làng, nhưng khi tả buổi tế vẫn viết “đội tế của năm làng”, còn buổi chiều vẫn viết “5 làng làm lễ tạ Thánh”. Bài Hà Nội Mới viết “5 làng” khi nói về lễ tạ và rước kiệu về làng. Bài này dùng “năm làng” khi nói về tên lễ hội, dùng “bốn làng” khi nói về bốn làng đăng cai luân phiên mà trang Cục Di sản liệt kê, và ghi nguồn ở từng chỗ.
Về nguồn gốc, trang Cục Di sản chép một tích truyền miệng, nên cần gọi đúng là tương truyền. Ngày xưa, do thiên tai, dân trong vùng đói kém, bệnh dịch tràn lan, làng Phùng Khoang được vua cho nấu cháo và cơm nắm để phát cho dân. Một cậu bé nhận được nắm cơm đã chia cho bốn cậu bé khác cùng ăn; năm người kết nghĩa anh em, lớn lên lập nghiệp ở vùng này và dựng nên những làng trù phú, chính là năm làng Mọc sau này. Trang chỉ trình bày đây là tích truyền miệng, không kèm tài liệu lịch sử, nên bài này không coi nó là sự kiện đã được chứng minh.
Theo hồ sơ, mỗi làng thờ một vị thành hoàng riêng: Giáp Nhất thờ Phùng Luông, vị tướng dưới thời Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng; Cự Chính thờ Đức Thánh Lã Đại Liệu, nha tướng dưới thời Ngô Quyền; Quan Nhân thờ Trung Nghĩa Đại Vương Hùng Lãng Công, người có công đánh giặc Nam Chiếu, và hồ sơ còn nhắc nơi thờ phu nhân là Thánh bà Trương Mỵ Nương; Phùng Khoang thờ Đoàn Thượng tướng quân. Trang Cục Di sản cho biết lễ hội nhằm tưởng nhớ các vị tiền bối có công với làng, với dân tộc, và mùa hội là dịp rước các Thánh du xuân, thưởng lãm cảnh quan năm làng, cầu cho quốc thái dân an.
Các mốc ngày của lễ hội Năm làng Mọc: mùng 10 đến 12 và ngày 11, 12 tháng Hai
Trong các nguồn có hai mốc ngày cùng xuất hiện, và chúng không loại trừ nhau nếu đọc đúng nghĩa của từng mốc.
Mốc thứ nhất là khung từ mùng 10 đến 12 tháng Hai âm lịch. Cả trang Cục Di sản lẫn bài Hà Nội Mới đều nêu khung này. Hà Nội Mới dẫn lời các cụ cao niên cho biết lễ hội có từ lâu đời và diễn ra vào những năm mùa màng tươi tốt để tri ân công lao của các vị thành hoàng; trang Cục Di sản cũng viết rằng thời xưa phải vào những năm mùa màng tươi tốt, dân làng mới đủ điều kiện tổ chức một hội lớn như vậy.
Mốc thứ hai là ngày 11 và 12 tháng Hai, hai ngày của hội lớn kể từ năm 1992. Trang Cục Di sản viết rằng từ năm 1992, dân các làng thống nhất năm năm tổ chức hội một lần vào ngày 11, 12 tháng Hai, luân phiên từng làng làm cai. Hà Nội Mới cho biết sau nhiều năm chiến tranh lễ hội bị gián đoạn từ năm 1945, đến năm 1992 các làng khôi phục lễ hội và luân phiên đăng cai tổ chức. Ngày 13 tháng Hai là ngày các làng làm lễ tạ và lễ yên vị đức Thánh, theo trang Cục Di sản.
Có ba điều cần lưu ý khi dùng các mốc này. Một, đó là ngày âm lịch; ngày dương lịch của cùng một ngày âm lịch đổi theo từng năm, nên phải tra đúng năm bạn định đi. Bài hội Gióng Phù Đổng và đền Sóc: hai mùa hội ở hai nơi, mốc âm lịch và cách xem hội cho đúng có các ví dụ có nguồn về cách đọc mốc âm lịch. Hai, nguồn không cho biết năm nào là năm hội lớn kế tiếp hay làng nào đăng cai ở các năm sau, nên bài không đoán. Ba, những năm không phải hội lớn, từng làng vẫn tổ chức hội làng theo tập tục; nguồn không mô tả hội làng ấy diễn ra thế nào và có đám rước chung hay không, vì vậy đừng hiểu rằng tháng Hai nào cũng có đám rước năm làng.
Hai nguồn lệch nhau ở đâu: bảng đối chiếu về số làng, khung ngày và ngày rước
Bảng dưới đây đặt hai nguồn cạnh nhau để người đọc thấy chỗ nào khớp, chỗ nào cần hỏi lại địa phương. Bài không tự phân xử vì cả hai nguồn đều không giải thích chỗ lệch.
| Nội dung | Trang Cục Di sản văn hóa | Bài Hà Nội Mới (Nhịp sống Hà Nội) |
|---|---|---|
| Số làng | Xưa năm làng, nay còn bốn làng (Giáp Nhất, Cự Chính, Quan Nhân, Phùng Khoang); một số câu mô tả vẫn viết “năm làng” | Viết “5 làng” |
| Khung ngày lễ hội | Mùng 10 đến 12 tháng Hai; từ năm 1992 hội lớn vào ngày 11, 12 tháng Hai | Mùng 10 đến 12 tháng Hai |
| Ngày rước chung | Ngày 11 nếu Quan Nhân hoặc Phùng Khoang đăng cai, ngày 12 nếu Giáp Nhất hoặc Cự Chính đăng cai | Ngày 12 tháng Hai mở đầu bằng đám rước quy mô lớn; ngày 11 là các nghi thức của các cụ cao niên |
| Chu kỳ hội lớn | Từ năm 1992 năm năm một lần, luân phiên làm cai | Không nêu chu kỳ; nói năm 1992 các làng khôi phục lễ hội và luân phiên đăng cai |
| Ghi danh di sản | Quyết định số 1727/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 5 năm 2021 | Ngày 27-5-2021 được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận |
Chỗ lệch đáng chú ý nhất là ngày rước. Trang Cục Di sản nói ngày rước chung rơi vào ngày 11 hoặc 12 tùy làng đăng cai, còn bài Hà Nội Mới đặt đám rước lớn vào ngày 12. Bài báo không nói đó là kỳ hội của năm nào hay làng nào đăng cai, nên không thể đối chiếu trực tiếp. Vì vậy cách an toàn là hỏi chương trình của đúng năm bạn định đi: năm đó có phải hội lớn không, làng nào đăng cai và đám rước chung diễn ra vào ngày nào.
Ngày 11 tháng Hai: mở cửa đình, rước nước, mộc dục và phong y
Theo Hà Nội Mới, lễ hội diễn ra vào tháng Hai nhưng từ tháng Chạp, dân làng đăng cai đã rục rịch chuẩn bị nhân lực, vật lực và các lễ vật dâng cúng. Ngoài những lễ vật cơ bản như xôi, oản, hoa quả, mỗi làng có một lễ vật đặc trưng: làng Giáp Nhất phải có thịt lợn sống, làng Cự Chính phải có bánh chưng, làng Quan Nhân phải có bánh bìa và chè kho. Đây chỉ là lễ vật dâng cúng theo bài báo; bài này không giới thiệu nơi bán hay nơi ăn.
Cũng theo bài báo, sáng sớm ngày 11 tháng Hai các bậc cao niên tiến hành những nghi thức quan trọng gồm lễ mở cửa đình, lễ rước nước, lễ mộc dục (tắm thánh) và lễ phong y (mặc áo, đội mũ), để hôm sau chính thức bước vào lễ hội. Như vậy với Hà Nội Mới, ngày 11 là phần nghi thức do các cụ thực hiện để chuẩn bị cho ngày rước lớn. Với trang Cục Di sản, ngày 11 lại có thể là ngày rước chung nếu làng đăng cai là Quan Nhân hoặc Phùng Khoang. Nguồn không nêu các nghi thức của các cụ được sắp xếp thế nào vào những năm rước vào ngày 11, cũng không nói người đến xem có được dự các nghi thức đó hay không, nên bài không suy diễn.
Ngày rước chung: điểm đón đoàn, thứ tự nhập đoàn và màn kiệu “bay”
Trang Cục Di sản cho biết đoàn rước của làng đăng cai thống nhất với các làng anh em về địa điểm đón đoàn rước. Bốn điểm đón được nêu gắn với bốn làng như bảng sau, cùng vị thờ và ngày rước nếu làng đó đăng cai.
| Làng | Vị thờ theo hồ sơ | Điểm đón theo hồ sơ | Ngày rước nếu là làng đăng cai |
|---|---|---|---|
| Giáp Nhất | Phùng Luông, tướng dưới thời Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng | Ao Nghè | Ngày 12 tháng Hai |
| Cự Chính | Đức Thánh Lã Đại Liệu, nha tướng dưới thời Ngô Quyền | Cầu Cống Lim | Ngày 12 tháng Hai |
| Quan Nhân | Trung Nghĩa Đại Vương Hùng Lãng Công | Đình Hội Xuân | Ngày 11 tháng Hai |
| Phùng Khoang | Đoàn Thượng tướng quân | Cổng chào của làng | Ngày 11 tháng Hai |
Sau khi tề tựu đông đủ, các đoàn rước nhập thành một đoàn theo thứ tự Giáp Nhất, Cự Chính, Quan Nhân, Phùng Khoang rồi tiến về trung tâm lễ hội. Trên đường đoàn đi qua, nhân dân hai bên bày hương án, lễ vật đón rước Thánh và cầu mong phước lành đến với gia đình.
Hà Nội Mới mô tả đám rước theo cách hơi khác: mỗi làng rước thánh tại đình làng mình, đi qua làng nào thì làng đó ra đón, rồi cùng tới đình làng đăng cai để dự lễ tế hội đồng. Bài báo gọi lễ rước kiệu thánh của các làng là điểm nhấn đặc sắc nhờ không khí hân hoan, vui tươi, mà đỉnh cao là màn kiệu “bay”. Cả hai nguồn không mô tả kiệu “bay” được thực hiện thế nào, nên bài này không giải thích thêm.
Tế hội đồng ở nhà tám mái, lễ tạ và rước thánh hồi cung
Theo mô tả trong hồ sơ, khoảng 10 giờ sáng các làng tiến hành tế hội đồng do đội tế của năm làng thực hiện. Sau ba hồi ba tiếng trống báo hiệu, cuộc tế chính thức bắt đầu. Nghi thức được làm tại nhà tám mái dựng ở sân đình, với ba tuần tế trong tiếng nhạc của dàn bát âm cùng tiếng chiêng, trống: sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ. Mốc “khoảng 10 giờ sáng” là cách hồ sơ mô tả trình tự chung, không phải giờ chính thức của một năm cụ thể; bài này không nêu giờ nào khác vì nguồn không có.
Tế xong, các cụ và dân làng cùng thụ lộc. Đình đăng cai mời khách của ba làng anh em nghỉ ngơi và dự bữa cỗ chung với làng. Hồ sơ nói rõ đó là khách của các làng anh em; nguồn không nói người đến xem từ nơi khác có được mời hay không.
Buổi chiều, theo hồ sơ, các làng làm lễ tạ Thánh: ngai Thánh cùng thần vị được cụ Từ và một số giai kiệu, chức sắc vào làm lễ rồi đưa ra kiệu để rước Thánh trở về làng mình. Qua cổng làng, kiệu Thánh của làng đăng cai chào kiệu Thánh các làng anh em, rồi các làng anh em lần lượt chào chủ đám và rước Thánh làng mình hồi cung. Hà Nội Mới tóm tắt phần này là sau lễ tế các làng lễ tạ và rước kiệu trở về làng mình, tiếp đó là phần hội với các trò chơi dân gian. Ngày 13 tháng Hai, các làng làm lễ tạ và lễ yên vị đức Thánh.
Trong những ngày lễ hội, trang Cục Di sản nêu nhiều trò chơi dân gian được tổ chức xung quanh đình và thu hút đông người dân, du khách, như đánh cờ, đá cầu, chọi gà, tổ tôm, bắt vịt. Nguồn không nói trò nào diễn ra vào ngày nào hay có dành cho khách tham gia hay không.
Lễ hội được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia khi nào
Theo trang Cục Di sản, với giá trị tiêu biểu, Lễ hội năm làng Mọc được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1727/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 5 năm 2021. Hà Nội Mới cũng nêu ngày 27-5-2021 lễ hội được Bộ công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hai nguồn khớp nhau về ngày này. Việc ghi danh là sự công nhận giá trị của lễ hội; các nguồn đã đọc không nói gì thêm về lịch hay cách tổ chức các năm sau đó.
Cách tra lịch và đi xem lễ hội Năm làng Mọc cho đúng phép tắc
Hai nguồn không có chương trình của một năm cụ thể, giờ, tuyến rước hay chỗ gửi xe, nên phần này là gợi ý chung của người viết, không gán cho cơ quan hay tờ báo nào.
- Hỏi trước năm đó là hội lớn hay hội làng. Hồ sơ nói hội lớn mở năm năm một lần còn những năm khác từng làng tổ chức hội làng, nhưng không nói rõ các năm hội làng có đám rước chung hay không. Hãy tìm thông báo của phường, của đình làng hoặc ban tổ chức cho đúng năm bạn định đi.
- Hỏi làng nào đăng cai. Vì ngày rước (ngày 11 hay ngày 12) và điểm đón đoàn thay đổi theo làng đăng cai, một lịch không ghi rõ làng đăng cai chưa đủ để lên kế hoạch.
- Đổi ngày âm lịch sang dương lịch của đúng năm. Dùng bảng đổi lịch đáng tin cậy và đối chiếu với thông báo của địa phương.
- Đứng ở khu vực dành cho người xem. Nhà tám mái ở sân đình là nơi đội tế hành lễ; hãy giữ khoảng cách với đội tế, đoàn rước và các hương án bày bên đường, không chen vào khu vực hành lễ.
- Ăn mặc kín đáo, lịch sự và đi giày dép dễ di chuyển. Bài trang phục, ứng xử và chụp ảnh khi vào đền chùa ở Việt Nam tổng hợp lời khuyên chung từ cổng du lịch quốc gia và các trang tư vấn nước ngoài.
- Hỏi trước khi chụp ảnh người dân, đội tế và đoàn rước, và không đứng chắn lối đi của đoàn.
- Đi sớm và chuẩn bị cho chỗ đông. Đám rước đi qua các làng và người dân hai bên đường bày hương án đón rước, nên đoạn đường quanh đình có thể đông; hãy dành thêm thời gian và sẵn sàng đi bộ những đoạn cuối nếu cần.
Nếu đi xe máy, đây cũng chỉ là gợi ý chung của người viết. Hãy gửi xe ở điểm do địa phương bố trí, không dựng xe chắn lối rước hay cổng đình, và đi thật chậm khi đến gần khu đình vì người đi bộ đông. Bài giữ thăng bằng khi đi chậm bằng xe máy trên đường đông và ngõ hẹp có các kỹ thuật cho những đoạn như vậy. Nếu phải để xe ở nơi có người trông, bài giá trông giữ xe máy trên lòng đường, hè phố Hà Nội và cách kiểm tra theo quyết định mới hướng dẫn đối chiếu phạm vi áp dụng, mức giá và nơi gửi xe; hãy đọc kỹ phạm vi áp dụng trước khi so với chỗ bạn gửi, còn bài này không nêu mức giá nào.
Nếu muốn ghép buổi xem hội vào một chuyến đi dài hơn trong thành phố, bài top địa điểm du lịch đẹp ở Hà Nội và bài du lịch Hà Nội một ngày nên đi đâu cho người lần đầu gợi ý cách xếp các điểm đến. Còn nếu bạn quan tâm đến một mùa hội khác cũng tính theo âm lịch và cũng gắn với sông Tô Lịch, hãy đọc bài lễ hội chùa Láng: lịch 5–8 tháng Ba âm lịch và chuyện rước kiệu qua sông Tô Lịch.
Những điều bài này chưa thể khẳng định
- Ngày dương lịch của lễ hội ở năm tới, năm nào là năm hội lớn kế tiếp và làng nào đăng cai ở các năm sau.
- Giờ chính thức của từng nghi thức; nguồn chỉ nêu “khoảng 10 giờ sáng” cho tế hội đồng.
- Tuyến cấm đường, nơi gửi xe, vé hay điều kiện tham gia dành cho khách.
- Số người trong đoàn rước, cách thực hiện màn kiệu “bay” và nội dung hội làng ở những năm không phải hội lớn.
- Địa giới hành chính hiện hành của các làng sau khi có thể đã được sắp xếp lại.
- Tính xác thực lịch sử của tích năm cậu bé kết nghĩa và của các vị thành hoàng; đó là tương truyền theo hồ sơ.
Nguồn tham khảo
- Lễ hội năm làng Mọc, hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa, đọc ngày 18/10/2026.
- Lễ hội Năm làng Mọc: Nét đẹp làng quê giữa chốn đô thành, Nhịp sống Hà Nội (Báo Hà Nội Mới), đọc ngày 18/10/2026.