Ẩm thực và văn hóa

Tò he làng Xuân La Phú Xuyên: nghề nặn bột, nguồn gốc tên gọi và nguy cơ mai một của làng nghề

Mục lục bài viết
  1. Tò he là gì: đồ chơi nặn từ bột, “đồ chơi chim cò” và “con bánh”
  2. Vì sao gọi là tò he: nguồn gốc tò he và chữ “có lẽ” của Dân trí
  3. Tò he làng Xuân La Phú Xuyên: nghề phụ lúc nông nhàn và thời thịnh vượng
  4. Nguy cơ mai một: thợ già, ít người trẻ theo nghề và những điều chưa có số liệu hiện hành
  5. Đổi mới và khôi phục: phụ gia cho bền, nhân vật hoạt hình và con giống bột thất truyền
  6. Cách ghé và những điều bài không khẳng định: địa chỉ, giá, nơi xem nặn
  7. Tóm tắt nhanh những điều rút ra từ hai bài báo
  8. Nguồn tham khảo

Tò he làng Xuân La Phú Xuyên là nghề nặn đồ chơi từ bột nhiều màu sắc, ban đầu dùng để cúng lễ, còn tên tò he có lẽ xuất phát từ tiếng kèn tò te gắn kèm sản phẩm. Hai bài báo đã đọc đều nhắc tới nguy cơ nghề mai một, nhưng giải thích lý do theo hai hướng khác nhau.

Bài tổng hợp hai nguồn đọc ngày mười chín tháng Mười năm 2026: bài “Người giữ lửa cho nghề tò he truyền thống ở Hà Nội” của báo Dân trí, đăng ngày 04/03/2023, và bài “Làng nghề tò he Xuân La dần mai một” của báo Thanh Niên, đăng ngày 27/05/2010. Vì vậy mọi chỗ lấy từ bài thứ hai được ghi là “theo bài Thanh Niên năm 2010”, và bài viết coi đó là thông tin của một thời điểm trước đây chứ không phải tình hình hiện nay. Phần nào do báo nào kể sẽ được ghi rõ, còn nhận định riêng của bài viết được đánh dấu là “gợi ý của bài viết” hoặc “bài viết nhận định”. Bài không nêu giá, địa chỉ, giờ hay nơi xem nặn hiện nay vì hai nguồn không có số liệu hiện hành; trước khi đi, hãy kiểm tra thông báo chính thức mới nhất.

Tò he là gì: đồ chơi nặn từ bột, “đồ chơi chim cò” và “con bánh”

Theo báo Dân trí, tò he là một loại trò chơi dân gian đậm chất thôn quê. Hình ảnh quen thuộc là người thợ ngồi vo và nặn khối bột dẻo nhiều màu thành những hình thù dễ thương, và hình ảnh ấy gắn với tuổi thơ của nhiều người Việt. Bài này dùng chữ tò he theo nghĩa đó, tức là một món đồ chơi nặn bằng tay từ bột.

Dân trí nhấn mạnh rằng nặn tò he nhìn bề ngoài tưởng dễ nhưng thực tế không đơn giản. Người làm phải khéo tay, sáng tạo và chính xác ở từng chi tiết thì sản phẩm mới bắt mắt, nên bài ví việc nặn tò he như một môn nghệ thuật. Thanh Niên thì gợi lại một hình ảnh khác: những người thợ quẩy gánh hàng đi rong trên phố phường Hà Nội, mang trò vui đến cho trẻ nhỏ như một nét văn hóa dân gian độc đáo.

Về dạng ban đầu của tò he, Dân trí viết rằng đó là sản phẩm làm bằng bột để cúng lễ, nên thường nặn hình các con vật như công, gà, trâu, bò, lợn, cá. Vì thế người ta gọi sản phẩm này là “đồ chơi chim cò”. Ở một số vùng miền Bắc, tò he còn được gọi là “con bánh”. Lý do bài đưa ra là ngoài con vật, người ta còn nặn bột thành nải chuối, chân giò, đĩa xôi để xếp thành mâm cỗ mang đi chùa dâng cúng. Những sản phẩm này có màu sắc tương đối giống đồ thật, và có pha chút đường nên ăn được. Đó là mô tả về dạng dâng cúng thời đầu; bài không có thông tin tương tự cho các loại tò he làm hiện nay.

Bảng dưới đây gom các tên gọi mà bài Dân trí (04/03/2023) nhắc tới. Cột cuối là lý do theo bài báo, không phải kết luận của bài viết.

Tên gọiDùng ở đâu theo nguồnLý do được nêu
Tò heTên phổ biến trong bàiCó lẽ từ tiếng kèn “tò te”, sau nói trại (xem phần tiếp theo)
Đồ chơi chim còGọi sản phẩm bột thời đầuBột dùng cúng lễ, nặn công, gà, trâu, bò, lợn, cá
Con bánhMột số vùng miền BắcNgoài con vật còn nặn nải chuối, chân giò, đĩa xôi thành mâm cỗ đi chùa

Gợi ý của bài viết: ba tên gọi này có thể đọc như ba cách nhìn vào cùng một món đồ, theo âm thanh (tò he), theo hình con vật (đồ chơi chim cò) và theo công dụng dâng cúng (con bánh). Đây là cách sắp xếp của bài viết, không phải phân loại của Dân trí. Theo thứ tự Dân trí kể, “đồ chơi chim cò” gắn với thời bột chỉ dùng cúng lễ, còn “tò he” xuất hiện về sau khi sản phẩm được gắn kèn; bài báo không nói “con bánh” có từ lúc nào.

Vì sao gọi là tò he: nguồn gốc tò he và chữ “có lẽ” của Dân trí

Phần giải thích tên gọi trong bài Dân trí (04/03/2023) đi theo một chuỗi ngắn gồm bốn bước:

  1. Thời đầu, sản phẩm bằng bột dùng để cúng lễ và được gọi là “đồ chơi chim cò”.
  2. Sau đó, sản phẩm được gắn lên một chiếc kèn dạng ống, và đầu kèn được phết một chút mạch nha.
  3. Khi thổi, chiếc kèn phát ra âm thanh “tò te”.
  4. Vì thế có lẽ người ta gọi sản phẩm là “tò te”, và sau này cách gọi được nói trại thành “tò he”.

Chữ quan trọng nhất trong chuỗi này là “có lẽ”. Dân trí đưa ra đây như một cách giải thích hợp lý chứ không dẫn một tài liệu ngôn ngữ hay văn bản cổ nào, nên bài này không khẳng định “tò he” chắc chắn bắt nguồn từ “tò te”. Nói trại nghĩa là cách phát âm lệch dần đi theo thời gian; bài báo không cho biết quá trình ấy diễn ra trong bao lâu.

Bài đọc cũng không cho biết sản phẩm được gắn vào kèn từ khi nào hay ai là người nghĩ ra việc đó, vì cụm “về sau” trong nguồn không kèm mốc thời gian. Bài Thanh Niên năm 2010 thì không giải thích tên gọi, cũng không nhắc kèn ống hay mạch nha. Vì vậy với phần tên gọi, bài viết chỉ có một nguồn là Dân trí, và người đọc nên xem đây là một cách giải thích hợp lý chứ chưa phải kết luận cuối cùng.

Tò he làng Xuân La Phú Xuyên: nghề phụ lúc nông nhàn và thời thịnh vượng

Theo bài Thanh Niên năm 2010, làng nghề tò he Xuân La nằm cách trung tâm Hà Nội chừng 40 km. Bài mô tả đây vốn là vùng đồng quê chiêm trũng, hay bị ngập úng và mất mùa. Những người già trong làng kể rằng nhu cầu kiếm thêm từ nghề phụ vào lúc nông nhàn đã sinh ra nghề nặn tò he, và nghề gắn với mảnh đất này từ lâu đến mức không ai nhớ nổi nó bắt đầu từ khi nào.

Bài Thanh Niên ghi làng thuộc xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Đó là cách gọi trong một bài báo cũ; tên đơn vị hành chính có thể đã thay đổi từ đó, nên bài này không nêu tên xã hiện hành và không dùng nó để chỉ đường. Bài Dân trí thì chỉ nhắc “làng nghề Xuân La” và đặt nghề này ở Hà Nội, không ghi huyện trong phần đã đọc. Việc nối hai bài về cùng một làng dựa trên tên làng và việc cùng nói về nghề tò he, là nhận định của bài viết.

Về thời thịnh vượng, ông Nguyễn Văn Định, người được bài giới thiệu là đã làm nghề hơn 40 năm, cho biết cả làng hơn 500 người từng cùng làm nghề và đi rong khắp nơi. Nghề không đem lại giàu có nhưng giúp người dân Xuân La sống ấm no hơn. Bài không ghi thời kỳ ấy rơi vào năm nào, nên con số hơn 500 người là của một giai đoạn không rõ mốc, không phải số liệu hiện nay.

Bài Dân trí kể từ góc nhìn của nghệ nhân Đặng Văn Hậu: nghề được ông ngoại của anh, nghệ nhân Đặng Văn Hạ, dạy từ khi còn bé. Anh nhớ thời cả làng còn đói kém, thiếu thốn, nghề nặn tò he cùng sự chăm chỉ và đôi tay khéo léo đã giúp dân làng có cuộc sống ổn định, ấm no hơn. Anh cũng cho biết con giống bột của làng rất đa dạng, gồm mâm ngũ quả, công, phượng, 12 con giáp và cả hai mẫu mang tên Tứ phủ thánh cô, Tứ phủ thánh cậu. Đây là danh sách do nghệ nhân kể ra, không phải danh mục đầy đủ.

Thanh Niên còn nhắc điều mà bài coi là đặc biệt nhất của làng: các nghệ nhân từng được mời biểu diễn ở nước ngoài. Cụ Đặng Đình Tố từng được mời sang Nhật Bản. Còn ông Nguyễn Văn Thuận, theo bài, sang Mỹ biểu diễn nặn tò he vào năm 2005 theo lời mời của Bộ Văn hóa – Thông tin (cũ), đúng dịp hai nước Việt Nam và Mỹ kỷ niệm một thập kỷ quan hệ ngoại giao. Theo lời ông Thuận, ông dành một tuần ở Mỹ để đến các trường học, vừa nặn biểu diễn vừa tặng trẻ em làm kỷ niệm; người lớn cũng thích, và khách còn nể khi thấy ông nặn được cả nhân vật truyền thống của nước họ hoặc chân dung của họ. Bài Thanh Niên đăng ngày 27/05/2010 và nhắc mốc năm 2005 như một chuyện đã qua.

Dân trí nhận xét rằng nghề nặn tò he ở Xuân La không chỉ để kiếm sống: bài coi đó là một nét đẹp văn hóa dân gian, góp phần giáo dục lớp trẻ về lịch sử, bản sắc và cội nguồn của dân tộc, và cho biết sản phẩm của làng đã được giới thiệu ở nhiều nước. Đó là nhận xét của tác giả bài báo; bài này không có nguồn độc lập để kiểm chứng mức độ “nhiều nước”.

Xuân La không phải làng nghề duy nhất quanh Hà Nội có bài riêng trên website này. Nếu muốn đọc thêm về một nghề thủ công ngoại thành khác, bạn có thể xem bài nón lá làng Chuông ở Thanh Oai và nghề làm nón, bài đó nói về nghề làm nón, phiên chợ nón và cách đến làng.

Nguy cơ mai một: thợ già, ít người trẻ theo nghề và những điều chưa có số liệu hiện hành

Với tò he làng Xuân La Phú Xuyên, cả hai bài đều nói tới nguy cơ mai một, nhưng ở hai thời điểm và từ hai góc nhìn. Thanh Niên, trong bài đăng năm 2010, mở đầu bằng nhận định rằng nghề từng khá nổi danh một thời đang đứng trước nguy cơ teo tóp. Dân trí (04/03/2023) dẫn lời nghệ nhân Đặng Văn Hậu: thế giới ngày càng thay đổi khiến anh cảm thấy rồi sẽ có ngày nghề làm con giống bột mai một.

Những gì bài Thanh Niên năm 2010 nêu ra có thể xếp thành ba nhóm:

  • Thợ già, ít người trẻ. Ông Nguyễn Văn Thuận nhẩm tính rằng số người còn theo nghề chủ yếu là lớp thợ già, chừng vài chục người, và hầu như không còn mấy người trẻ chọn nghề này. Đây là ước tính bằng miệng của một nghệ nhân, không phải thống kê. Ông Định tiếc rằng nhiều thanh niên học xong phổ thông không có việc làm, trong khi nghề truyền thống của làng bị bỏ phí.
  • Thiếu chỗ bán. Các nghệ nhân kể trước đây họ thường đến công viên Thống Nhất, Thủ Lệ, các vườn hoa và nơi vui chơi để nặn bán, nhưng từ lâu hàng rong bị cấm ở những nơi đó. Ông Đào Văn Chất cho biết nghề chủ yếu phục vụ khách trên phố, trong khi thuê cửa hàng mặt phố là khoản vượt sức; ngồi đâu cũng bị đuổi nên ít người còn muốn lên phố. Nặn ở nhà thì không biết bán cho ai, và theo bài, phần đông thợ vì thế dần bỏ nghề.
  • Điều các nghệ nhân phủ nhận. Nhiều thợ lâu năm, như ông Thuận, ông Định, ông Oa và ông Chất, khẳng định nghề mai một không phải do bị đồ chơi khác lấn át, kể cả tàu biển sắt ở Khương Đình hay đồ chơi mây tre đan ở Tây Phương. Theo họ, khi lên phố nặn, trẻ em vẫn thích và hễ thấy là đòi cha mẹ mua.

Dân trí nhìn từ một phía khác. Theo bài, khi mạng xã hội phát triển, người trẻ có nhiều trò giải trí hấp dẫn trên internet và có xu hướng tìm những nơi mới, hiện đại hơn thay vì chọn trò chơi dân gian như tò he. Chính nghệ nhân Hậu cũng nhận ra tò he truyền thống có nhược điểm là dễ mốc và không để được lâu, và đó là lý do anh tìm cách làm sản phẩm bền hơn (xem phần sau).

Đây là chỗ hai nguồn nói khác nhau. Các nghệ nhân trong bài Thanh Niên cho rằng trẻ em trên phố vẫn thích tò he và khó khăn nằm ở chỗ bán; Dân trí lại nhấn vào việc người trẻ chuộng giải trí khác. Hai nhận định chưa chắc mâu thuẫn, vì một bên nói về trẻ em mua đồ chơi trên phố, một bên nói về người trẻ chọn trò giải trí, nhưng cũng không bên nào kèm số liệu. Bài viết nhận định rằng chưa đủ căn cứ để chọn một nguyên nhân chính; nên đọc cả hai như các góc nhìn bổ sung cho nhau.

Bảng sau cho thấy từng điều được nhắc, nguồn và mức độ có thể dùng.

Điều được nhắcNguồn và thời điểmCách dùng
Số người còn làm nghề chừng vài chục, chủ yếu thợ giàLời một nghệ nhân trong bài Thanh Niên năm 2010Ước tính cũ, không phải số hiện nay
Hàng rong bị cấm ở công viên và vườn hoaThanh Niên, 27/05/2010Tình hình lúc đó, chưa kiểm tra lại
Người trẻ chuộng giải trí trên mạngDân trí, 04/03/2023Nhận định của bài báo
Thu nhập và tiền thuê mặt phốThanh Niên, 27/05/2010Không lặp lại vì đã cũ

Có bốn điều mà bài không có số liệu hiện hành và cũng không đoán: số người đang làm nghề, thu nhập hiện nay, các điểm được hoặc không được bán và biểu diễn hiện nay, và số người trẻ đang học nghề. Nếu cần các thông tin này, hãy tìm ở thông báo chính thức mới nhất của địa phương hoặc nói chuyện trực tiếp với người trong nghề.

Đổi mới và khôi phục: phụ gia cho bền, nhân vật hoạt hình và con giống bột thất truyền

Dân trí giới thiệu nghệ nhân Đặng Văn Hậu là người có 20 năm làm con giống bột ở làng nghề Xuân La và đã đổi mới nhiều để nghề thích ứng với thời đại. Anh chỉ ra nhược điểm của tò he truyền thống là dễ mốc và không để lâu được, nên đã cho thêm phụ gia vào bột để những con giống dùng trưng bày, trang trí bền hơn và người mua có thể mang đi bất cứ nơi đâu.

Bài Dân trí không nói phụ gia là chất gì, cũng không nói loại tò he có phụ gia có ăn được hay không. Gợi ý của bài viết: nếu mua một con giống bột làm quà, hãy hỏi người bán về thành phần và độ bền, rồi coi nó là đồ trưng bày chứ không phải đồ ăn cho tới khi được trả lời rõ. Bài viết không đánh giá chất lượng hay độ an toàn của bất kỳ sản phẩm cụ thể nào.

Hình dáng cũng đổi theo thị hiếu. Theo Dân trí, ngày trước người ta nặn chủ yếu cây quả và con vật, còn nay các nghệ nhân nặn thêm những nhân vật mà trẻ em yêu thích, lấy từ truyện cổ tích và truyện tranh; bài kể tên Tề Thiên Đại Thánh, Trư Bát Giới, Aladin, Đôremon và Pokémon. Danh sách còn có hình ảnh các anh hùng dân tộc, đèn ông sao, cảnh ngày mùa và cảnh làng quê truyền thống. Bài nhận xét người làm tò he bây giờ năng động hơn nhiều trước thị hiếu của khách.

Song song với đổi mới là khôi phục. Theo Dân trí, anh Hậu hiện cùng nhà nghiên cứu Trịnh Bách và nghệ nhân Phạm Thị Nguyệt Ánh thực hiện ý tưởng khôi phục các con giống bột đã thất truyền. Nhóm được viện Viễn Đông Bác Cổ hỗ trợ, và dùng tài liệu từ một bảo tàng ở Pháp do bạn bè của nhà nghiên cứu Trịnh Bách gửi về. Bài đánh giá hành trình này đã rất thành công: nhiều con giống thất truyền được khôi phục và được công chúng đón nhận, trong đó có các mẫu mà bài gọi là “tứ linh dược” và “lục súc cá vàng tam sư”.

Bài không giải thích ý nghĩa của hai tên mẫu này, nên bài viết cũng không diễn giải thêm. “Thành công” và “được yêu thích” là nhận xét của Dân trí; bài viết chưa có nguồn độc lập để xác nhận số mẫu đã khôi phục, mẫu nào còn chưa tìm lại được, hay các mẫu ấy hiện được bán ở đâu.

Để có một điểm so sánh với cách một làng nghề khác giữ nghề, bạn có thể đọc bài nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ ở Gia Lâm và lý do làng giữ nghề đến nay, bài đó nói về các công đoạn đập quỳ và lý do làng còn giữ nghề. Mỗi làng có hoàn cảnh và nguồn tư liệu riêng, nên bài này chỉ dùng nó để tham khảo thêm chứ không đặt hai nghề lên cùng một thang đo.

Cách ghé và những điều bài không khẳng định: địa chỉ, giá, nơi xem nặn

Hai bài báo đã đọc không nêu địa chỉ xưởng hay nhà nghệ nhân, không nêu giá sản phẩm, giờ làm việc hay nơi xem nặn hiện nay. Bài Thanh Niên năm 2010 còn cho thấy một thời nghề chủ yếu phục vụ khách trên phố và các nghệ nhân thiếu một điểm bán cố định; không bài nào nhắc tới một điểm tham quan hay buổi trình diễn mở cửa đều đặn ở làng. Vì vậy bài này không đưa ra các thông tin đó, và người đọc không nên suy ra rằng ở Xuân La có cửa hàng hay buổi nặn diễn ra thường xuyên. Bài cũng không nêu số điện thoại hay kênh liên hệ nào.

Theo nguồn đã đọc ngày mười chín tháng Mười năm 2026, điều chắc chắn chỉ là hai báo từng viết về nghề nặn tò he ở Xuân La, không phải việc nghề đang hoạt động ra sao hôm nay. Nếu bạn muốn đến tìm hiểu tò he làng Xuân La Phú Xuyên, gợi ý của bài viết là làm theo thứ tự sau:

  1. Xác định mục đích: xem nặn, mua quà hay chỉ tìm hiểu về nghề, vì nguồn không cho biết nơi nào phục vụ từng nhu cầu đó.
  2. Tìm thông báo chính thức mới nhất của địa phương hoặc đơn vị tổ chức sự kiện, cùng kênh liên hệ chính thức của nghệ nhân nếu có, thay vì dựa vào một bài báo cũ.
  3. Hỏi trước xem có buổi nặn hay không và có nhận khách đến thăm hay không, rồi mới lên kế hoạch di chuyển.
  4. Nếu đi bằng xe máy, hãy tự tra lộ trình và thời gian di chuyển trên bản đồ số; con số 40 km của bài báo cũ chỉ là khoảng cách ước chừng. Nếu dùng xe thuê, hãy hỏi cửa hàng xem xe có phù hợp cho một quãng đường dài hơn trong nội thành không.
  5. Nếu muốn mua quà, hãy hỏi về thành phần và độ bền của sản phẩm, như đã nêu ở phần đổi mới.

Website này còn một bài nhắc tò he trong chương trình của một dịp kỷ niệm: bài về đền Hai Bà Trưng ở Hà Nội và ngày hội chính của đền. Việc được nhắc trong chương trình của một dịp không có nghĩa là lúc nào cũng có người nặn tò he ở đó, nên hãy xem thông tin chính thức của sự kiện trước khi đi.

Tóm tắt nhanh những điều rút ra từ hai bài báo

  • Tò he là gì. Theo Dân trí (04/03/2023), đó là đồ chơi nặn từ bột; thời đầu dùng cúng lễ nên nặn công, gà, trâu, bò, lợn, cá và được gọi là “đồ chơi chim cò”; một số vùng miền Bắc gọi là “con bánh”.
  • Vì sao gọi là tò he. Sản phẩm về sau được gắn vào kèn ống có quét mạch nha, thổi ra tiếng “tò te” nên có lẽ được gọi là “tò te”, rồi nói trại thành “tò he”. Chữ “có lẽ” là của nguồn, nên đây chưa phải kết luận chắc chắn.
  • Làng Xuân La. Theo bài Thanh Niên năm 2010, làng cách trung tâm Hà Nội chừng 40 km, nghề là nghề phụ lúc nông nhàn và thời thịnh vượng có hơn 500 người làm nghề; mốc thời gian không rõ.
  • Nguy cơ mai một. Thanh Niên (năm 2010) nêu thợ già, ít người trẻ theo nghề và hàng rong bị cấm ở công viên, vườn hoa; Dân trí nêu người trẻ chuộng giải trí trên mạng. Hai bài giải thích theo hai hướng và đều không có số liệu hiện hành.
  • Đổi mới và khôi phục. Theo Dân trí, nghệ nhân Đặng Văn Hậu thêm phụ gia cho bền, nặn nhân vật mới, và cùng nhà nghiên cứu Trịnh Bách khôi phục các con giống bột thất truyền.
  • Điều bài không khẳng định. Địa chỉ, giá, giờ, nơi xem nặn và số thợ hiện nay đều không có trong nguồn. Hãy kiểm tra thông báo chính thức mới nhất trước khi đi; thông tin trong bài chỉ là của các nguồn đã đọc vào thời điểm nêu ở đầu bài.

Tóm lại, tò he làng Xuân La Phú Xuyên là một nghề thủ công có tên gọi dễ nhớ nhưng nhiều chi tiết vẫn chỉ dừng ở mức “có lẽ” hoặc “theo một bài báo cũ”. Hãy xem hai nguồn này là điểm khởi đầu để tìm hiểu, không phải bản hướng dẫn tham quan.

Nguồn tham khảo

Chia sẻ Facebook Zalo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *